- Udāna 5.5
Uposathasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Uposathasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, tu viện Pubba, ở tòa nhà dài của Mẹ của Migāra. Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, đức Thế Tôn đang ngồi, được vây quanh bởi hội chúng tỳ khưu. Khi ấy, lúc đêm đã khuya canh một đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đêm đã khuya, canh một đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã im lặng. Đến lần thứ nhì, lúc đêm đã khuya canh giữa đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đêm đã khuya, canh giữa đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã im lặng. Đến lần thứ ba, lúc đêm đã khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đêm đã khuya, canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” “Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”
2. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã khởi ý điều này: “Liên quan đến nhân vật nào khiến đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh’?” Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã tác ý dùng tâm biết được tâm của toàn thể hội chúng tỳ khưu. Đại đức Mahāmoggallāna đã nhìn thấy nhân vật ấy, kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải là Sa-môn, tự xưng là Sa-môn, không có Phạm hạnh, tự xưng là có Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu; sau khi nhìn thấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gần nhân vật ấy, sau khi đến gần đã nói với nhân vật ấy điều này: “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Khi ấy, nhân vật ấy đã im lặng. Đến lần thứ nhì, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này: “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Đến lần thứ nhì, nhân vật ấy đã im lặng. Đến lần thứ ba, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này: “Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Việc cộng trú với các tỳ khưu là không có cho ngươi.” Đến lần thứ ba, nhân vật ấy đã im lặng.
3. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nắm lấy nhân vật ấy ở cánh tay đẩy ra bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào, gài chốt cửa lại, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, nhân vật ấy đã bị con đẩy ra ngoài rồi; hội chúng được thanh tịnh. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” “Này Moggallāna, thật kỳ lạ thay! Này Moggallāna thật khác thường thay! Gã rồ dại ấy lại chờ đợi cho đến lúc bị nắm lấy cánh tay.”
4. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, giờ đây kể từ nay về sau Ta sẽ không tiến hành lễ Uposatha, sẽ không tuyên đọc giới bổn. Này các tỳ khưu, giờ đây kể từ nay về sau chính các ngươi sẽ tiến hành lễ Uposatha, sẽ tụng đọc giới bổn Pātimokkha. Này các tỳ khưu, việc này không hợp lý không có cơ sở là việc đức Như Lai có thể tiến hành lễ Uposatha, có thể tuyên đọc giới bổn Pātimokkha ở hội chúng không thanh tịnh.
5. Này các tỳ khưu, đây là tám pháp kỳ diệu phi thường về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả. Tám pháp ấy là gì?
(1.) Này các tỳ khưu, biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(2.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(3.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ rồi hất lên đất liền. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ rồi hất lên đất liền. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(4.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả.’ Này các tỳ khưu, sự việc các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả.’ Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(5.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có các dòng nước ở thế gian đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc có các dòng nước ở thế gian đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(6.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, biển cả có một vị là vị của muối. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả chỉ có một vị là vị của muối. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(7.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý. Ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
(8.) Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn. Ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
Này các tỳ khưu, đây là tám pháp kỳ diệu phi thường về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
6. Này các tỳ khưu, tương tự y như thế trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu phi thường, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì?
(1.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, tương tự như thế trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác. Này các tỳ khưu, sự việc trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(2.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, tương tự như thế điều học nào đã được Ta quy định cho các đệ tử của Ta, các đệ tử của Ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống. Này các tỳ khưu, sự việc điều học nào đã được Ta quy định cho các đệ tử, các đệ tử của Ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(3.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả không sống chung với xác chết nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ rồi hất lên đất liền, này các tỳ khưu, tương tự như thế nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, Tăng chúng không sống chung với kẻ ấy, mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra.
Cho dù kẻ ấy ngồi giữa Tăng chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi Tăng chúng và Tăng chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, sự việc nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, Tăng chúng không sống chung với nhân vật ấy, mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa Tăng chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi Tăng chúng và Tăng chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(4.) Này các tỳ khưu, cũng giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả,’ này các tỳ khưu, tương tự như thế bốn loại giai cấp này là vua chúa, Bà-la-môn, thương buôn, và nô bộc, khi họ đã rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được công bố bởi đức Như Lai thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử.’ Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là vua chúa, Bà-la-môn, thương buôn, và nô bộc, khi họ đã rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được công bố bởi đức Như Lai thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử.’ Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(5.) Này các tỳ khưu, cũng giống như các dòng nước ở thế gian đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, tương tự như thế cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(6.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tự như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(7.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tự y như thế Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy pháp đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám ngành. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy pháp đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám ngành. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
(8.) Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tự như thế Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
Này các tỳ khưu đây là tám pháp kỳ diệu phi thường trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.”
7. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Bố Tát
45. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, giảng đường của mẹ Migāra. Lúc bấy giờ, vào ngày Bố-tát, Thế Tôn đang ngồi, có Tăng chúng Tỳ-khưu vây quanh.
Atha kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante paṭhame yāme, uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti; nikkhanto paṭhamo yāmo; ciranisinno bhikkhusaṅgho; uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
And then, as the night was getting late, in the first watch of the night, Venerable Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the first watch of the night, and the Saṅgha of monks has been sitting long. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.” But when he said this, the Buddha kept silent.
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh một đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y lệch một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua; canh một đã mãn; Tăng chúng Tỳ-khưu đã ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đọc Pātimokkha cho các Tỳ-khưu.’ Khi được nói vậy, Thế Tôn vẫn im lặng.
Dutiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante majjhime yāme, uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti; nikkhanto majjhimo yāmo; ciranisinno bhikkhusaṅgho; uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. Dutiyampi kho bhagavā tuṇhī ahosi.
For a second time, as the night was getting late, in the middle watch of the night, Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the middle watch of the night, and the Saṅgha of monks has been sitting long. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.” But for a second time the Buddha kept silent.
Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh giữa đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y lệch một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua; canh giữa đã mãn; Tăng chúng Tỳ-khưu đã ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đọc Pātimokkha cho các Tỳ-khưu.’ Lần thứ hai, Thế Tôn vẫn im lặng.
Tatiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā, nikkhante pacchime yāme, uddhaste aruṇe, nandimukhiyā rattiyā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantā, bhante, ratti; nikkhanto pacchimo yāmo; uddhasto aruṇo; nandimukhī ratti; ciranisinno bhikkhusaṅgho; uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. “Aparisuddhā, ānanda, parisā”ti.
For a third time, as the night was getting late, in the last watch of the night, as dawn stirred, bringing joy to the night, Ānanda rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha and said, “Sir, the night is getting late. It is the last watch of the night and dawn stirs, bringing joy to the night. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.” “Ānanda, the assembly is not pure.”
Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh cuối đã mãn, lúc rạng đông ló dạng, khi đêm có bộ mặt hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y lệch một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua; canh cuối đã mãn; rạng đông đã ló dạng; đêm có bộ mặt hoan hỷ; Tăng chúng Tỳ-khưu đã ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đọc Pātimokkha cho các Tỳ-khưu.’ – ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.’
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “kaṁ nu kho bhagavā puggalaṁ sandhāya evamāha: ‘aparisuddhā, ānanda, parisā’”ti? Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sabbāvantaṁ bhikkhusaṅghaṁ cetasā ceto paricca manasākāsi. Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ dussīlaṁ pāpadhammaṁ asuciṁ saṅkassarasamācāraṁ paṭicchannakammantaṁ assamaṇaṁ samaṇapaṭiññaṁ abrahmacāriṁ brahmacāripaṭiññaṁ antopūtiṁ avassutaṁ kasambujātaṁ majjhe bhikkhusaṅghassa nisinnaṁ. Disvāna uṭṭhāyāsanā yena so puggalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ puggalaṁ etadavoca: “uṭṭhehi, āvuso, diṭṭhosi bhagavatā; natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Evaṁ vutte, so puggalo tuṇhī ahosi.
Then Venerable Mahāmoggallāna thought, “Who is the Buddha talking about?” Then he focused on encompassing the minds of everyone in the Saṅgha. He saw that unethical individual, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved, sitting in the middle of the Saṅgha. When he saw him he rose from his seat, went up to him and said, “Get up, reverend. The Buddha has seen you. You can’t live in communion with the monks.” But when he said this, that individual kept silent.
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nhắm đến cá nhân nào mà nói như vầy: ‘Này Ānanda, hội chúng không trong sạch’?” Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna đã dùng tâm của mình bao trùm và tác ý đến tâm của toàn thể hội chúng tỳ khưu. Tôn giả Mahāmoggallāna đã nhìn thấy cá nhân ấy, kẻ ác giới, theo tà pháp, không trong sạch, có hành vi đáng ngờ, việc làm che giấu, không phải là sa-môn nhưng tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh nhưng tự nhận là người sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, như đồ cặn bã, đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu. Sau khi nhìn thấy, ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ cá nhân ấy; sau khi đến, ngài nói với cá nhân ấy điều này: “Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn nhìn thấy. Ông không được sống chung với các tỳ khưu.” Khi được nói như vậy, cá nhân ấy vẫn im lặng.
Dutiyampi kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ etadavoca: “uṭṭhehi, āvuso, diṭṭhosi bhagavatā; natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho so puggalo tuṇhī ahosi.
For a second time and a third time, he asked that monk to leave. But for a third time that individual kept silent.
Lần thứ hai, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với cá nhân ấy điều này: “Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn nhìn thấy. Ông không được sống chung với các tỳ khưu.” Lần thứ hai... ... Lần thứ ba, cá nhân ấy vẫn im lặng.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ bāhāyaṁ gahetvā bahidvārakoṭṭhakā nikkhāmetvā sūcighaṭikaṁ datvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “nikkhāmito, bhante, so puggalo mayā. Parisuddhā parisā. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. “Acchariyaṁ, moggallāna, abbhutaṁ, moggallāna. Yāva bāhāgahaṇāpi nāma so moghapuriso āgamessatī”ti.
Then Venerable Mahāmoggallāna took that individual by the arm, ejected him out the gate, and bolted the door. Then he went up to the Buddha, and said to him, “I have ejected that individual. The assembly is pure. Please, sir, may the Buddha recite the monastic code to the monks.” “It’s incredible, Moggallāna, it’s amazing, how that futile man waited to be taken by the arm!”
Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna nắm cánh tay của cá nhân ấy, đuổi ra khỏi cổng vòm, cài then lại, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ngài bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, cá nhân ấy đã bị con đuổi ra. Hội chúng đã trong sạch. Bạch ngài, mong Thế Tôn hãy thuyết Pātimokkha cho các tỳ khưu.” “Thật kỳ diệu, này Moggallāna, thật phi thường, này Moggallāna! Kẻ ngu si ấy đã chờ đợi cho đến khi bị nắm tay lôi đi!”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “na dānāhaṁ, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ karissāmi, pātimokkhaṁ uddisissāmi. Tumheva dāni, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ kareyyātha, pātimokkhaṁ uddiseyyātha. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ tathāgato aparisuddhāya parisāya uposathaṁ kareyya, pātimokkhaṁ uddiseyya.
Then the Buddha said to the monks, “From this day forth, monks, I will not perform the sabbath or recite the monastic code. Now you should perform the sabbath and recite the monastic code. It’s impossible, monks, it can’t happen that a Realized One could recite the monastic code in an impure assembly.
Sau đó, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, từ nay về sau, ta sẽ không thực hiện lễ Uposatha, sẽ không thuyết Pātimokkha. Này các tỳ khưu, từ nay về sau, chính các ông hãy thực hiện lễ Uposatha, hãy thuyết Pātimokkha. Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có khả năng Như Lai lại thực hiện lễ Uposatha, lại thuyết Pātimokkha trong một hội chúng không trong sạch.”
Aṭṭhime, bhikkhave, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Katame aṭṭha?
Mahāsamuddo, bhikkhave, anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro na āyatakeneva papāto;
Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean. What eight?
The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice.
“Này các tỳ khưu, có tám pháp kỳ diệu, phi thường này trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương. Tám pháp ấy là gì?
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati;
Furthermore, the ocean is consistent and doesn’t overflow its boundaries.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, đại dương có bản chất ổn định, không vượt quá bờ. Này các tỳ khưu, việc đại dương có bản chất ổn định, không vượt quá bờ; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ hai trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
“Này các tỳ khưu, đại dương tuần tự dốc xuống, tuần tự xuôi dần, tuần tự thoải dần, chứ không đột ngột như một vực thẳm. Này các tỳ khưu, việc đại dương tuần tự dốc xuống, tuần tự xuôi dần, tuần tự thoải dần, chứ không đột ngột như một vực thẳm; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ nhất trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati. Yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ taṁ khippameva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ taṁ khippameva tīraṁ vāheti thalaṁ ussāreti; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde tatiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, the ocean doesn’t accommodate a carcass, but quickly carries it to the shore and strands it on the beach. This is the third thing the titans love about the ocean.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, đại dương không chứa chấp xác chết. Bất cứ xác chết nào có trong đại dương, nó nhanh chóng đưa vào bờ, tấp lên đất liền. Này các tỳ khưu, việc đại dương không chứa chấp xác chết, bất cứ xác chết nào có trong đại dương, nó nhanh chóng đưa vào bờ, tấp lên đất liền; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ ba trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī, tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni; ‘mahāsamuddo’tveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘mahāsamuddo’tveva saṅkhaṁ gacchanti; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, when they reach the ocean, all the great rivers—that is, the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—lose their names and clans and are simply reckoned as ‘the ocean’. This is the fourth thing the titans love about the ocean.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, bất cứ con sông lớn nào, như là: Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương, chúng từ bỏ tên và dòng họ trước đây của mình và chỉ được tính là ‘đại dương’. Này các tỳ khưu, việc bất cứ con sông lớn nào, như là: Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương, chúng từ bỏ tên và dòng họ trước đây của mình và chỉ được tính là ‘đại dương’; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tư trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti, yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati. Yampi, bhikkhave, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti, yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde pañcamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, for all the world’s streams that reach it, and the showers that fall from the sky, the ocean never empties or fills up. This is the fifth thing the titans love about the ocean.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương, và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng không vì thế mà sự vơi đi hay đầy lên của đại dương được nhận thấy. Này các tỳ khưu, việc các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương, và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng không vì thế mà sự vơi đi hay đầy lên của đại dương được nhận thấy; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ năm trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, the ocean has just one taste, the taste of salt. This is the sixth thing the titans love about the ocean.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, đại dương chỉ có một vị, vị mặn. Này các tỳ khưu, việc đại dương chỉ có một vị, vị mặn; này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ sáu trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la lấy làm vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo bahuratano anekaratano. Tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṁ rajataṁ jātarūpaṁ lohitaṅgo masāragallaṁ. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo bahuratano anekaratano, tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṁ rajataṁ jātarūpaṁ lohitaṅgo masāragallaṁ; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde sattamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, the ocean is full of many kinds of treasures, such as pearls, gems, beryl, conch, quartz, coral, silver, native gold, rubies, and emeralds. This is the seventh thing the titans love about the ocean.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, đại dương có nhiều báu vật, có vô số báu vật. Ở đó có những báu vật này, tức là: ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, ốc xà cừ, thạch anh, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, mã não. Này các Tỳ khưu, chính vì đại dương có nhiều báu vật, có vô số báu vật, ở đó có những báu vật này, tức là: ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, ốc xà cừ, thạch anh, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, mã não; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ bảy trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la thích thú trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timitimiṅgalo asurā nāgā gandhabbā. Santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā, dviyojanasatikāpi attabhāvā, tiyojanasatikāpi attabhāvā, catuyojanasatikāpi attabhāvā, pañcayojanasatikāpi attabhāvā. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timitimiṅgalo asurā nāgā gandhabbā, santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā dviyojanasatikāpi attabhāvā …pe… pañcayojanasatikāpi attabhāvā; ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Furthermore, many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. This is the eighth thing the titans love about the ocean. Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn. Ở đó có những chúng sanh này: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các a-tu-la, các loài rồng, các càn-thát-bà. Trong đại dương có những chúng sanh thân hình dài một trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài hai trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài ba trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài bốn trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài năm trăm do-tuần. Này các Tỳ khưu, chính vì đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn, ở đó có những chúng sanh này: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các a-tu-la, các loài rồng, các càn-thát-bà, và trong đại dương có những chúng sanh thân hình dài một trăm do-tuần, có những chúng sanh thân hình dài hai trăm do-tuần... có những chúng sanh thân hình dài năm trăm do-tuần; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la thích thú trong đại dương. Này các Tỳ khưu, đây chính là tám pháp kỳ diệu, phi thường trong đại dương, mà khi thấy đi thấy lại, các a-tu-la thích thú trong đại dương.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Katame aṭṭha?
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto;
In the same way, seeing eight incredible and amazing things, monks, the mendicants love this teaching and training. What eight?
The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu, phi thường, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu thích thú trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì?
Ví như, này các Tỳ khưu, đại dương tuần tự thấp dần, tuần tự xuôi dần, tuần tự dốc dần, chứ không có vực thẳm đột ngột; cũng vậy, này các Tỳ khưu, trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, có sự hành động tuần tự, có con đường tuần tự, chứ không có sự chứng đắc trí tuệ đột ngột. Này các Tỳ khưu, chính vì trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, có sự hành động tuần tự, có con đường tuần tự, chứ không có sự chứng đắc trí tuệ đột ngột; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu thích thú trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati; evamevaṁ kho, bhikkhave, yaṁ mayā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ taṁ mama sāvakā jīvitahetupi nātikkamanti. Yampi, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ taṁ mama sāvakā jīvitahetupi nātikkamanti; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye dutiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean is consistent and doesn’t overflow its boundaries. In the same way, when a training rule is laid down for my disciples they wouldn’t break it even for the sake of their own life. This is the second thing the mendicants love about this teaching and training.
Ví như, này các Tỳ khưu, đại dương có bản chất ổn định, không vượt qua bờ; cũng vậy, này các Tỳ khưu, học giới nào đã được Ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của Ta không vi phạm học giới ấy ngay cả vì mạng sống. Này các Tỳ khưu, chính vì học giới nào đã được Ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của Ta không vi phạm học giới ấy ngay cả vì mạng sống; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ hai trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu thích thú trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati; yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ taṁ khippameva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti; evamevaṁ kho, bhikkhave, yo so puggalo dussīlo pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto, na tena saṅgho saṁvasati; atha kho naṁ khippameva sannipatitvā ukkhipati. Kiñcāpi so hoti majjhe bhikkhusaṅghassa nisinno, atha kho so ārakāva saṅghamhā, saṅgho ca tena. Yampi, bhikkhave, yo so puggalo dussīlo pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto, na tena saṅgho saṁvasati; khippameva naṁ sannipatitvā ukkhipati. Kiñcāpi so hoti majjhe bhikkhusaṅghassa nisinno, atha kho so ārakāva saṅghamhā, saṅgho ca tena; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye tatiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean doesn’t accommodate a carcass, but quickly carries it to the shore and strands it on the beach. In the same way, the Saṅgha doesn’t accommodate an individual who is unethical, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved. But they quickly gather and expel them. Even if such an individual is sitting in the middle of the Saṅgha, they’re far from the Saṅgha, and the Saṅgha is far from them. This is the third thing the mendicants love about this teaching and training.
Ví như, này các Tỳ khưu, đại dương không chung sống với xác chết; xác chết nào có trong đại dương, nó sẽ nhanh chóng đưa vào bờ, tấp lên đất liền; cũng vậy, này các Tỳ khưu, người nào ác giới, theo tà pháp, không trong sạch, có hành vi đáng ngờ, có hành động che giấu, không phải sa-môn mà tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh mà tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị lậu hoặc thấm ướt, như đồ bỏ đi, Tăng chúng không chung sống với người ấy; mà nhanh chóng hội họp lại và trục xuất người ấy. Dù người ấy có đang ngồi giữa Tăng chúng, nhưng người ấy vẫn xa lìa Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa lìa người ấy. Này các Tỳ khưu, chính vì người nào ác giới, theo tà pháp, không trong sạch, có hành vi đáng ngờ, có hành động che giấu, không phải sa-môn mà tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh mà tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị lậu hoặc thấm ướt, như đồ bỏ đi, Tăng chúng không chung sống với người ấy; mà nhanh chóng hội họp lại và trục xuất người ấy. Dù người ấy có đang ngồi giữa Tăng chúng, nhưng người ấy vẫn xa lìa Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa lìa người ấy; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu thích thú trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī tā mahāsamuddaṁ patvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘mahāsamuddo’tveva saṅkhaṁ gacchanti; evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāro vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘samaṇā sakyaputtiyā’tveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, bhikkhave, cattāro vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘samaṇā sakyaputtiyā’tveva saṅkhaṁ gacchanti; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Furthermore, when they reach the ocean, all the great rivers—that is, the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—lose their names and clans and are simply reckoned as ‘the ocean’. In the same way, when they go forth from the lay life to homelessness, all four classes—aristocrats, brahmins, peasants, and menials—lose their former names and clans and are simply reckoned as ‘ascetics who follow the Sakyan’. This is the fourth thing the mendicants love about this teaching and training.
Ví như, này các Tỳ khưu, những con sông lớn nào, tức là: sông Hằng, sông Yamunā, sông Aciravatī, sông Sarabhū, sông Mahī, khi chảy đến đại dương, chúng từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và chỉ được gọi là 'đại dương'; cũng vậy, này các Tỳ khưu, bốn giai cấp – Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la – họ, trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, rồi từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và chỉ được gọi là 'sa-môn Thích tử'. Này các Tỳ khưu, chính vì bốn giai cấp – Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la – họ, trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, rồi từ bỏ tên và dòng họ trước kia, và chỉ được gọi là 'sa-môn Thích tử'; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu thích thú trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti, yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; evamevaṁ kho, bhikkhave, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati. Yampi, bhikkhave, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye pañcamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
For all the world’s streams that reach it, and the showers that fall from the sky, the ocean never empties or fills up. In the same way, though several mendicants become fully extinguished in the element of extinguishment with no residue, the element of extinguishment never empties or fills up. This is the fifth thing the mendicants love about this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, ví như ở thế gian, những dòng sông nào chảy vào đại dương, và những dòng nước nào từ hư không rơi xuống, do nhân ấy, sự vơi đi hay đầy lên của đại dương không được biết đến; cũng vậy, này các Tỳ khưu, dẫu cho nhiều Tỳ khưu nhập Vô Dư Y Niết Bàn giới, do nhân ấy, sự vơi đi hay đầy lên của Niết Bàn giới không được biết đến. Này các Tỳ khưu, chính vì dẫu cho nhiều Tỳ khưu nhập Vô Dư Y Niết Bàn giới, mà do nhân ấy, sự vơi đi hay đầy lên của Niết Bàn giới không được biết đến; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; evamevaṁ kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo ekaraso vimuttiraso. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo ekaraso vimuttiraso; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean has just one taste, the taste of salt. In the same way, this teaching and training has one taste, the taste of freedom. This is the sixth thing the mendicants love about this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, ví như đại dương chỉ có một vị, vị mặn; cũng vậy, này các Tỳ khưu, Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát. Này các Tỳ khưu, chính vì Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo bahuratano anekaratano, tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā maṇi veḷuriyo saṅkho silā pavāḷaṁ rajataṁ jātarūpaṁ lohitaṅgo masāragallaṁ; evamevaṁ kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano; tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano, tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye sattamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
The ocean is full of many kinds of treasures, such as pearls, gems, beryl, conch, quartz, coral, silver, native gold, rubies, and emeralds. In the same way, this teaching and training is full of many kinds of treasures, such as the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. This is the seventh thing the mendicants love about this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, ví như đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật, ở đó có những báu vật này, tức là: ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, ốc xà cừ, thạch anh, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, ngọc mã não; cũng vậy, này các Tỳ khưu, Pháp và Luật này có nhiều báu vật, vô số báu vật; ở đó có những báu vật này, tức là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo Tám ngành. Này các Tỳ khưu, chính vì Pháp và Luật này có nhiều báu vật, vô số báu vật, ở đó có những báu vật này, tức là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo Tám ngành; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—timi timiṅgalo timitimiṅgalo asurā nāgā gandhabbā, santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā dviyojanasatikāpi attabhāvā tiyojanasatikāpi attabhāvā catuyojanasatikāpi attabhāvā pañcayojanasatikāpi attabhāvā; evamevaṁ kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso;tatrime bhūtā—sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno, sakadāgāmī, sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, anāgāmī, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, arahā, arahattāya paṭipanno. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno, sakadāgāmī, sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, anāgāmī, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno, arahā, arahattāya paṭipanno; ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Ime kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti.
Many great beings live in the ocean, such as leviathans, leviathan-gulpers, leviathan-gulper-gulpers, titans, dragons, and centaurs. In the ocean there are life-forms a hundred leagues long, or even two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred leagues long. In the same way, great beings live in this teaching and training, and these are those beings. The stream-enterer and the one practicing to realize the fruit of stream-entry. The once-returner and the one practicing to realize the fruit of once-return. The non-returner and the one practicing to realize the fruit of non-return. The perfected one, and the one practicing for perfection. This is the eighth thing the mendicants love about this teaching and training. Seeing these eight incredible and amazing things, the mendicants love this teaching and training.”
Này các Tỳ khưu, ví như đại dương là trú xứ của các loài chúng sanh to lớn, ở đó có những chúng sanh này: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các A-tu-la, các loài Rồng, các Càn-thát-bà, và trong đại dương có những tự thể dài một trăm do-tuần, những tự thể dài hai trăm do-tuần, những tự thể dài ba trăm do-tuần, những tự thể dài bốn trăm do-tuần, những tự thể dài năm trăm do-tuần; cũng vậy, này các Tỳ khưu, Pháp và Luật này là trú xứ của các bậc vĩ nhân; ở đó có những bậc vĩ nhân này: bậc Dự Lưu, vị thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu, bậc Nhất Lai, vị thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, bậc Bất Lai, vị thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, bậc A-la-hán, vị thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các Tỳ khưu, chính vì Pháp và Luật này là trú xứ của các bậc vĩ nhân, ở đó có những bậc vĩ nhân này: bậc Dự Lưu, vị thực hành để chứng ngộ quả Dự Lưu, bậc Nhất Lai, vị thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, bậc Bất Lai, vị thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, bậc A-la-hán, vị thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán; này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này. Này các Tỳ khưu, đây chính là tám pháp kỳ diệu, phi thường trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Khi ấy, Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Channamativassati, vivaṭaṁ nātivassati; Tasmā channaṁ vivaretha, evaṁ taṁ nātivassatī”ti.
Pañcamaṁ.
“The rain saturates things that are covered up; it doesn’t saturate things that are open. Therefore you should open up a covered thing, so the rain will not saturate it.”
Mưa làm ướt kẻ che đậy, mưa không làm ướt kẻ phơi bày. Vì vậy, hãy phơi bày điều che đậy, như vậy mưa sẽ không làm ướt người ấy. (Kinh thứ năm).