- Udāna 1.6
Mahākassapasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mahākassapasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākassapa trú ở hang động Pipphali, là người bệnh, bị khổ sở, có bệnh trầm trọng. Rồi sau một thời gian, đại đức Mahākassapa đã thoát khỏi cơn bệnh ấy.
2. Lúc ấy, điều này đã khởi đến đại đức Mahākassapa khỉ đã thoát khỏi cơn bệnh ấy: “Có lẽ ta nên đi vào thành Rājagaha để khất thực.”
Vào lúc bấy giờ, các Thiên nhân với số lượng năm trăm vị đang có sự sốt sắng về việc thọ nhận đồ ăn khất thực của đại đức Mahākassapa.
Lúc ấy, đại đức Mahākassapa đã từ chối các Thiên nhân với số lượng năm trăm vị ấy, sau đó vào buổi sáng đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Rājagaha để khất thực, nơi đường lộ của những người nghèo khổ, nơi đường lộ của những người khốn khó, nơi đường lộ của những người thợ dệt.
Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Mahākassapa đang đi khất thực trong thành Rājagaha, nơi đường lộ của những người nghèo khổ, nơi đường lộ của những người khốn khó, nơi đường lộ của những người thợ dệt.
3. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Vị không nuôi dưỡng kẻ khác, đã được biết tiếng, đã được rèn luyện, đã đứng vững ở cốt lõi, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, có sân hận đã được tẩy trừ, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Mahākassapa
6. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa trú tại hang Pipphali, bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng. Rồi Tôn giả Mahākassapa, sau một thời gian, đã bình phục khỏi cơn bệnh ấy. Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa, sau khi bình phục khỏi cơn bệnh ấy, đã khởi lên ý nghĩ này: "Ta hãy vào thành Rājagaha để khất thực."
Tena kho pana samayena pañcamattāni devatāsatāni ussukkaṁ āpannāni honti āyasmato mahākassapassa piṇḍapātapaṭilābhāya. Atha kho āyasmā mahākassapo tāni pañcamattāni devatāsatāni paṭikkhipitvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi—yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā. Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākassapaṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā.
Now at that time five hundred deities were ready and eager for the chance to offer alms to Mahākassapa. But Mahākasspa turned down those deities. In the morning, he robed up, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for alms. He went to the streets of the poor, the destitute, and the embroiderers. The Buddha saw him wandering for alms in the streets of the poor, the destitute, and the embroiderers.
Bấy giờ, có khoảng năm trăm vị thiên nữ đang nỗ lực để Tôn giả Mahākassapa nhận được vật thực cúng dường. Rồi Tôn giả Mahākassapa, sau khi từ chối năm trăm vị thiên nữ ấy, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào thành Rājagaha để khất thực – đến khu phố của người nghèo, khu phố của người khốn cùng, khu phố của thợ dệt. Thế Tôn thấy Tôn giả Mahākassapa đang đi khất thực ở Rājagaha, tại khu phố của người nghèo, khu phố của người khốn cùng, khu phố của thợ dệt.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Anaññaposimaññātaṁ, dantaṁ sāre patiṭṭhitaṁ; Khīṇāsavaṁ vantadosaṁ, tamahaṁ brūmi brāhmaṇan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“The stranger, providing for no other, tamed, consolidated in the core, with defilements ended and flaws purged: that’s who I declare a brahmin.”
“Không được người khác nuôi dưỡng, không tự phô trương, đã được điều phục, an trú trong cốt tủy; các lậu hoặc đã tận, các lỗi lầm đã trừ, Ta gọi người ấy là Bà-la-môn.” (Kinh thứ sáu)