- Sutta Nipāta 4.15
Bản dịch
SNP 4.15 — Kinh Uế Hạnh Của Bản Thân
Attadaṇḍasutta
Sự sợ hãi sanh lên do uế hạnh của bản thân. Các người hãy nhìn xem loài người đang gây gỗ. Ta sẽ thuật lại trạng thái chấn động đúng theo sự việc đã bị chấn động bởi Ta. attadaṇḍā được dịch là “uế hạnh của bản thân” căn cứ vào lời giải thích của Chú Giải: “attadaṇḍā bhayaṃ jātaṃ attano duccaritakāraṇā jātaṃ” (SnA. ii, 566). Tựa đề của bài Kinh đã được ghi nghĩa theo ý nghĩa ấy.
Sau khi nhìn thấy nhân loại đang run rẩy tựa như những con cá ở chỗ ít nước, sau khi nhìn thấy chúng chống đối lẫn nhau, sự sợ hãi đã xâm nhập Ta.
Toàn bộ thế gian là không có cốt lõi, tất cả các phương đều bị chuyển động. Trong khi ước muốn chỗ trú ngụ cho bản thân, Ta đã không nhìn thấy (một nơi nào là) không bị chiếm cứ.
Nhưng ngay sau khi nhìn thấy chúng chống đối vào giai đoạn cuối, sự chán ngán đã khởi lên ở Ta. Và ở đây, Ta đã nhìn thấy mũi tên khó thể nhìn thấy đã được cắm sâu vào trái tim (tâm thức).
Kẻ đã bị mũi tên đâm vào chạy khắp tất cả các phương (luân hồi khắp các cõi), sau khi đã nhổ chính mũi tên ấy lên thì không chạy, (và) không chìm xuống.
Ở nơi ấy, các môn học tập được truyền tụng. Những gì bị trói buộc vào thế gian, không nên quan tâm đến chúng. Sau khi thấu triệt các dục về mọi phương diện, nên học tập về sự tịch diệt cho bản thân.
Nên chân thật, không hỗn xược, không xảo quyệt, việc nói đâm thọc được buông bỏ, không giận dữ, bậc hiền trí có thể vượt qua sự xấu xa của tham, (và) sự keo kiệt.
Người có tâm ý hướng Niết Bàn nên khắc phục trạng thái ngủ gà ngủ gật, sự uể oải, sự dã dượi, không nên cộng trú với sự xao lãng, không nên trụ lại ở sự ngã mạn thái quá.
Không nên bị lôi kéo vào việc nói lời dối trá, không nên tạo ra sự thương yêu ở sắc, và nên hiểu toàn diện về ngã mạn, nên sống tránh xa sự hung bạo.
Không nên thích thú cái cũ (ngũ uẩn quá khư), không nên tạo ra sự ưa chuộng cái mới (ngũ uẩn vị lai), trong khi (cái gì) đang bị tiêu hoại, không nên sầu muộn, không nên nương tựa hư không (tham ái).
Ta gọi thèm khát là ‘dòng lũ lớn,’ ta gọi tham muốn là dòng nước mạnh, sự bám vào (đối tượng) là rung động, dục là bãi lầy khó vượt qua được.
Không chệch khỏi sự thật (gọi là) bậc hiền trí, đứng ở đất liền (gọi là) vị Bà-la-môn. Vị ấy sau khi xả bỏ tất cả, vị ấy quả thật được gọi là ‘bậc an tịnh.’
Quả thật, vị ấy là bậc đã hiểu biết, vị ấy là bậc đã đạt được sự thông hiểu, sau khi biết pháp, vị ấy không nương tựa (vào tham ái và tà kiến). Vị ấy, trong khi cư xử chân chánh ở thế gian, không mong cầu đối với bất cứ người nào ở nơi này.
Ở đây, vị nào vượt qua các dục, sự quyến luyến ở thế gian khó vượt qua được, vị ấy không sầu muộn, không ưu tư, có dòng chảy đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc.
Điều gì trước đây (quá khứ), ngươi chớ nắm lấy điều ấy. Chớ có bất cứ điều gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi không nắm lấy ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh.
Đối với vị nào không có vật đã được chấp là của ta liên quan đến danh và sắc về mọi phương diện, và (là vị) không sầu muộn do tình trạng không có, vị ấy quả thật không bị thua thiệt ở thế gian.
Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì, trong lúc không tìm kiếm trạng thái sở hữu chủ (nghĩ rằng): ‘Không có gì là của tôi,’ vị ấy không sầu muộn.
Không ganh tỵ, không tham đắm, không dục vọng, bình đẳng ở mọi nơi, điều ấy là sự lợi ích mà Ta (sẽ) nói, khi được hỏi về vị không dao động.
Đối với vị không dục vọng, đang nhận thức, không có bất cứ sự tạo tác nào. Đã tránh xa khỏi sự tạo tác, vị ấy nhìn thấy an toàn ở mọi nơi.
Bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ngang bằng, không trong số những người thấp kém, không trong số những người ưu việt. Được an tịnh, đã xa lìa sự bỏn xẻn, vị ấy không nắm giữ, không buông bỏ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 4.15
Taking Up Arms
15. Kinh Attadaṇḍa
“Attadaṇḍā bhayaṁ jātaṁ, janaṁ passatha medhagaṁ; Saṁvegaṁ kittayissāmi, yathā saṁvijitaṁ mayā.
Peril stems from those who take up arms—just look how people conflict! I shall extol how I came to be stirred with a sense of urgency.
Sợ hãi sanh khởi từ sự chấp thủ hình phạt. Hãy nhìn chúng sanh đang xung đột. Ta sẽ kể về sự xúc động, như ta đã từng xúc động.
Phandamānaṁ pajaṁ disvā, macche appodake yathā; Aññamaññehi byāruddhe, disvā maṁ bhayamāvisi.
I saw this population flounder, like a fish in a little puddle. Seeing them at odds with each other, fear came upon me.
Thấy chúng sanh đang run rẩy, như cá trong vũng nước cạn; thấy họ xung đột với nhau, sự sợ hãi đã xâm chiếm ta.
Samantamasāro loko, disā sabbā sameritā; Icchaṁ bhavanamattano, nāddasāsiṁ anositaṁ.
The world around was volatile, all directions were in turmoil. Wanting a home for myself, I saw nowhere unsettled.
Thế gian khắp nơi không có cốt lõi, tất cả các phương đều rung chuyển. Mong muốn một nơi trú ẩn cho mình, ta đã không thấy nơi nào không bị chìm ngập.
Osāne tveva byāruddhe, Disvā me aratī ahu; Athettha sallamaddakkhiṁ, Duddasaṁ hadayanissitaṁ.
Yet even in their settlement they were at odds—seeing that, I grew uneasy. Then I saw a dart there, so hard to see, stuck in the heart.
Thấy chúng sanh xung đột cho đến tận cùng, ta cảm thấy bất mãn. Và rồi ta đã thấy ở đây mũi tên khó thấy, nằm sâu trong tim.
Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvati; Tameva sallamabbuyha, na dhāvati na sīdati.
When struck by that dart, you run around in all directions. But when that same dart has been plucked out, you neither run around nor sink down.
Bị mũi tên nào đâm vào, người ấy chạy khắp các phương. Nhổ chính mũi tên ấy ra, người ấy không còn chạy, không còn chìm đắm.
Tattha sikkhānugīyanti, yāni loke gadhitāni; Na tesu pasuto siyā, nibbijjha sabbaso kāme; Sikkhe nibbānamattano.
(On that topic, the trainings are recited.) Whatever attachments there are in the world, don’t pursue them. Having pierced through sensual pleasures <j>in every way, train yourself for extinguishment.
Ở đó, các học thuật được theo đuổi, vì những gì được tham đắm trong đời. Không nên chuyên tâm vào chúng; sau khi thấu triệt hoàn toàn các dục, hãy học tập Niết Bàn cho chính mình.
Sacco siyā appagabbho, amāyo rittapesuṇo; Akkodhano lobhapāpaṁ, vevicchaṁ vitare muni.
Be truthful, not rude, free of deceit, and rid of slander; without anger, a sage would cross over the evils of greed and avarice.
Bậc ẩn sĩ nên là người chân thật, không táo bạo, không lừa dối, không nói đâm thọc, không sân hận; nên vượt qua lòng tham xấu xa và sự keo kiệt.
Niddaṁ tandiṁ sahe thīnaṁ, pamādena na saṁvase; Atimāne na tiṭṭheyya, nibbānamanaso naro.
Prevail over sleepiness, sloth, and drowsiness, don’t abide in negligence, A person intent on quenching would not stand for arrogance.
Người có tâm hướng về Niết Bàn nên chế ngự sự buồn ngủ, sự lười biếng, sự hôn trầm; không nên sống chung với sự dễ duôi, không nên đứng trong sự ngã mạn.
Mosavajje na nīyetha, rūpe snehaṁ na kubbaye; Mānañca parijāneyya, sāhasā virato care.
Don’t be led into lying, or get caught up in affection for form. Completely understand conceit, and desist from hasty conduct.
Không nên bị dẫn dắt bởi lời nói dối, không nên tạo ra sự luyến ái trong sắc; nên liễu tri ngã mạn, nên sống từ bỏ sự bạo hành.
Purāṇaṁ nābhinandeyya, Nave khantiṁ na kubbaye; Hiyyamāne na soceyya, Ākāsaṁ na sito siyā.
Don’t relish the old, or welcome the new. Don’t grieve for what is running out, or get attached to things that pull you in.
Không nên hoan hỷ với cái cũ, không nên tạo ra sự ưa thích trong cái mới; không nên sầu muộn khi nó suy tàn, không nên nương tựa vào tham ái.
Gedhaṁ brūmi mahoghoti, Ājavaṁ brūmi jappanaṁ; Ārammaṇaṁ pakappanaṁ, Kāmapaṅko duraccayo.
Greed, I say, is the great flood, and longing is the current—the basis, the compulsion, the swamp of sensuality so hard to get past.
Ta gọi sự tham lam là dòng lũ lớn; ta gọi sự nhanh chóng (của nó) là sự mong mỏi; đối tượng (của nó) là sự tưởng tượng; ta gọi vũng lầy dục vọng là khó vượt qua.
Saccā avokkamma muni, Thale tiṭṭhati brāhmaṇo; Sabbaṁ so paṭinissajja, Sa ve santoti vuccati.
The sage never strays from the truth; the brahmin stands on solid ground. Having given up everything, they are said to be at peace.
Bậc ẩn sĩ, vị Bà-la-môn, không rời xa chân lý, đứng trên đất liền (Niết Bàn). Vị ấy, sau khi từ bỏ tất cả, quả thật được gọi là người tịch tịnh.
Sa ve vidvā sa vedagū, Ñatvā dhammaṁ anissito; Sammā so loke iriyāno, Na pihetīdha kassaci.
They have truly known, they’re a knowledge master, understanding the teaching, they are independent. They rightly proceed in the world, not coveting anything here.
Quả thật vị ấy là người có trí, vị ấy là người đã đạt đến tận cùng của sự hiểu biết. Biết pháp, không nương tựa, vị ấy đi lại đúng đắn trong đời, không khao khát bất cứ ai ở đây.
Yodha kāme accatari, Saṅgaṁ loke duraccayaṁ; Na so socati nājjheti, Chinnasoto abandhano.
One who has crossed over sensuality here, the chain in the world so hard to get past, grieves not, nor hopes; they’ve cut the strings, they’re no longer bound.
Người nào ở đây đã vượt qua các dục, đã vượt qua sự dính mắc khó vượt qua trong đời, người ấy không sầu muộn, không mong mỏi; là người đã cắt đứt dòng chảy, không còn bị trói buộc.
Yaṁ pubbe taṁ visosehi, Pacchā te māhu kiñcanaṁ; Majjhe ce no gahessasi, Upasanto carissasi.
What came before, let wither away, and after, let there be nothing. If you don’t grasp at the middle, you will live at peace.
Cái gì ở quá khứ, hãy làm cho nó khô cạn; mong rằng không có gì cho ngươi ở tương lai. Nếu ngươi không nắm giữ ở hiện tại, ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.
Sabbaso nāmarūpasmiṁ, Yassa natthi mamāyitaṁ; Asatā ca na socati, Sa ve loke na jīyati.
One who has no sense of ownership in the whole realm of name and form, does not grieve for that which is not, they suffer no loss in the world.
Người nào hoàn toàn không có sự chấp là của ta trong danh và sắc, và không sầu muộn vì cái không có, quả thật người ấy không bị thua thiệt trong đời.
Yassa natthi idaṁ meti, Paresaṁ vāpi kiñcanaṁ; Mamattaṁ so asaṁvindaṁ, Natthi meti na socati.
If you don’t think of anything as belonging to yourself or others, not finding any possessiveness, you won’t grieve, thinking “I don’t have it”.
Người nào không có ý niệm 'cái này là của ta', hay (quan tâm đến) bất cứ cái gì của người khác, người ấy không tìm thấy sự sở hữu, và không sầu muộn rằng 'ta không có'.
Aniṭṭhurī ananugiddho, Anejo sabbadhī samo; Tamānisaṁsaṁ pabrūmi, Pucchito avikampinaṁ.
Not bitter, not fawning, unstirred, everywhere even; when asked about one who is unwavering, I declare that that is the benefit.
Khi được hỏi về người không dao động, ta tuyên bố lợi ích này: không thô lỗ, không tham luyến, không rung động, bình đẳng trong mọi nơi.
Anejassa vijānato, Natthi kāci nisaṅkhati; Virato so viyārabbhā, Khemaṁ passati sabbadhi.
For the unstirred who understand, there’s no performance of deeds. Desisting from instigation, they see sanctuary everywhere.
Đối với người không còn tham ái, người đã thấu hiểu, không còn bất cứ sự tạo tác nào. Vị ấy đã từ bỏ mọi nỗ lực (tạo tác), thấy được sự an ổn ở khắp mọi nơi.
Na samesu na omesu, Na ussesu vadate muni; Santo so vītamaccharo, Nādeti na nirassatī”ti.
A sage doesn’t speak of themselves as being among superiors, inferiors, or equals. Peaceful, rid of stinginess, they are neither ditching nor taking up.
Bậc Thánh nhân không nói (mình) bằng người, không nói (mình) thấp kém hơn, không nói (mình) hơn người. Vị ấy an tịnh, không còn keo kiệt, không nắm giữ, cũng không từ bỏ.
Attadaṇḍasuttaṁ pannarasamaṁ.
Kinh Tự Phạt, phẩm thứ mười lăm, đã chấm dứt.