- Sutta Nipāta 4.13
Bản dịch
SNP 4.13 — Kinh Sự Dàn Trận Lớn
Mahābyūhasutta
“Bất cứ những người nào, trong khi sống theo quan điểm (riêng của cá nhân), tranh cãi rằng: ‘Chỉ điều này là chân lý,’ có phải tất cả những người ấy đều mang lại sự chê trách, hay họ cũng đạt được sự khen ngợi về việc ấy?”
“Bởi vì việc (ca ngợi) này là nhỏ nhoi, không đủ để đưa đến sự yên lặng. Ta nói đến hai kết quả của sự tranh cãi. Và sau khi nhìn thấy như vậy, thì không nên tạo ra sự tranh cãi, trong khi nhận thấy vùng đất không tranh cãi là an toàn (Niết Bàn). khen chê, thắng thua, v.v... (SnA. ii, 557).
Bất cứ những thỏa thuận chung nào được sanh lên từ số đông, bậc đã hiểu biết không tiếp cận tất cả những điều ấy. Trong khi không thể hiện sự chấp nhận ở điều đã được thấy, ở điều đã được nghe, vị ấy, không có sự vướng bận, tại sao lại đi đến với sự vướng bận?
Những kẻ chủ trương giới là tối thượng đã nói sự trong sạch là do sự tự chế ngự. Sau khi thọ trì phận sự, họ duy trì (nghĩ rằng): ‘Chúng ta hãy học tập ở lãnh vực này thôi, rồi sẽ có sự trong sạch;’ họ bị dẫn đến hữu trong khi tuyên bố (mình) là thiện xảo.
Nếu bị hư hỏng về giới và phận sự, kẻ ấy run rẩy sau khi thất bại về hành động, kẻ ấy tham muốn, ước nguyện sự trong sạch ở nơi này, ví như người bị bỏ lại bởi đoàn xe trong khi sống xa nhà.
Hoặc là sau khi đã dứt bỏ tất cả giới và phận sự, cùng hành động có tội hoặc không có tội ấy, trong khi không ước nguyện về ‘sự trong sạch hay không trong sạch,’ đã lìa bỏ, vị ấy sống, không nắm bắt sự an tịnh (do tà kiến).
Sau khi nương tựa vào điều đã bị chán ghét ấy (khổ hạnh), hoặc vào điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, những kẻ chủ trương luân hồi hướng thượng nói về sự trong sạch, chúng chưa xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu. uddhaṃsarā: những vị này có quan điểm không hành động (SnA. ii, 558). Mahāniddesa cho biết có bốn hạng thuyết về uddhaṃsarā và giải thích rằng những vị này chủ trương sự trong sạch đạt được thông qua tái sanh luân hồi (Nidd. i, 315; TTPV tập 35, trang 431).
Bởi vì đối với những người đang ước nguyện, các sự tham muốn hoặc sự run sợ về các điều đã được (họ) xếp dặt. Ở đây, đối với vị nào tử và sanh là không có, vị ấy có thế run rẩy vì cái gì, có thể tham muốn về cái gì?
Pháp nào mà một số vị đã nói là ‘tối cao,’ trái lại, những vị khác đã nói về chính pháp ấy là ‘thấp kém;’ vậy trong số những vị này, lời nói nào là sự thật, bởi vì tất cả các vị này đều tuyên bố (mình) là thiện xảo?
Bởi vì họ đã tuyên bố pháp của chính mình là hoàn hảo, hơn nữa, họ đã tuyên bố pháp của người khác là thấp kém. Sau khi giữ khư khư (quan điểm của mình) như vậy, chúng tranh cãi, và đã tuyên bố quan điểm riêng của từng cá nhân là sự thật.
Nếu là thấp kém do việc bị khinh miệt của người khác, thì không có pháp nào là đặc biệt trong số các pháp, bởi vì số đông tuyên bố pháp của người khác là thấp hèn, trong khi nói một cách chắc chắn về (pháp) của mình.
Họ ngợi khen đường lối của chính mình như thế nào, thì việc cúng dường đến học thuyết của họ sẽ là y như vậy. Tất cả các học thuyết có thể là đúng đắn, bởi vì sự trong sạch của họ chỉ liên quan đến cá nhân.
Sau khi suy xét về điều đã được ôm giữ trong số các pháp (tà kiến), đối với vị Bà-la-môn, không có việc bị dẫn dắt bởi người khác. Do điều ấy, vị Bà-la-môn vượt lên trên các sự tranh cãi, bởi vì vị Bà-la-môn nhìn thấy học thuyết khác là không tối thắng.
(Nói rằng): ‘Tôi biết, tôi thấy điều ấy chắc chắn là như thế,’ một số tin rằng sự trong sạch là do việc thấy. Nếu đã nhìn thấy, điều gì có được cho bản thân với việc (thấy) ấy? Sau khi sai sót, chúng nói về sự trong sạch theo cách khác.
Một người, trong khi nhìn, sẽ nhìn thấy danh và sắc, hoặc sau khi nhìn thấy thì sẽ biết được mỗi chúng mà thôi. Hãy để người ấy nhìn nhiều hay ít theo ý thích, các bậc thiện xảo hẳn nhiên không nói sự trong sạch là do điều ấy.
Trong khi sùng bái quan điểm đã được xếp dặt, kẻ đã chấp chặt vào học thuyết quả thật không dễ hướng dẫn. Nương tựa vào cái gì thì nói điều tốt đẹp về cái ấy, với lời tuyên bố về sự trong sạch, kẻ ấy đã nhìn thấy sự thật ở nơi ấy.
Sau khi cân nhắc, vị Bà-la-môn không tiếp cận sự sắp đặt (của tham ái và tà kiến), không có sự hùa theo quan điểm, cũng không có sự thân thiết với các (thắng) trí. Và sau khi biết các sự đồng thuận được sanh lên từ số đông, vị ấy thản nhiên (nói rằng): ‘Hãy để những kẻ khác tiếp thu.’
Sau khi tháo gở các sự trói buộc ở thế gian này, bậc hiền trí không hùa theo phe nhóm ở các cuộc tranh cãi đã được sanh lên. Vị ấy thản nhiên, an tịnh giữa những người không an tịnh, không tiếp thu, (nói rằng): ‘Hãy để những kẻ khác tiếp thu.’
Sau khi từ bỏ các lậu hoặc trước đây, không tạo ra những lậu hoặc mới, không là người đi theo sự (tác động của) mong muốn, cũng không phải là kẻ đã chấp chặt vào học thuyết, vị ấy đã được giải thoát khỏi các tà kiến, là bậc sáng trí, không bị nhơ bẩn ở thế gian, không có sự chê trách bản thân.
Vị ấy là người diệt đạo binh ở tất cả các pháp (tà kiến), về bất cứ điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác. Bậc hiền trí ấy có gánh nặng đã đặt xuống, đã được tách riêng, không chịu sự phân hạng, không phải kiêng chừa, không có ước nguyện.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 4.13
The Longer Discourse on Arrayed for Battle
13. Đại Kinh Dàn Trận
“Ye kecime diṭṭhiparibbasānā, Idameva saccanti vivādayanti; Sabbeva te nindamanvānayanti, Atho pasaṁsampi labhanti tattha”.
“Regarding those who maintain their own view, disputing that, ‘This is the only truth’: are all of them subject only to criticism, or do some also win praise for that?”
Bất cứ ai cố thủ trong quan điểm của mình, tranh luận rằng 'Chỉ có điều này là thật', có phải tất cả họ đều chỉ rước lấy sự chỉ trích, hay họ cũng nhận được lời khen ngợi ở đó?
“Appañhi etaṁ na alaṁ samāya, Duve vivādassa phalāni brūmi; Etampi disvā na vivādayetha, Khemābhipassaṁ avivādabhūmiṁ”.
“That is a small thing, insufficient for peace, these two fruits of dispute, I say. Seeing this, one ought not dispute, looking for sanctuary in the land of no dispute.
Điều đó (lời khen) thật nhỏ nhoi, không đủ để mang lại sự an tịnh. Ta nói có hai kết quả của sự tranh luận. Thấy cả điều này, người ta không nên tranh luận, khi thấy trạng thái không tranh luận là nơi an ổn.
“Yā kācimā sammutiyo puthujjā, Sabbāva etā na upeti vidvā; Anūpayo so upayaṁ kimeyya, Diṭṭhe sute khantimakubbamāno”.
One who knows does not get involved with any of the many different conventions. Why would the uninvolved get involved, since they do not believe <j>based on the seen or the heard?
Bất cứ quan niệm phổ thông nào, tất cả chúng, bậc trí không tiếp cận. Người không chấp thủ, làm sao có thể chấp thủ? Không tạo ra sự ưa thích đối với những gì được thấy và nghe.
“Sīluttamā saññamenāhu suddhiṁ, Vataṁ samādāya upaṭṭhitāse; Idheva sikkhema athassa suddhiṁ, Bhavūpanītā kusalāvadānā.
Those for whom ethics are the highest speak of purity through self-control; having undertaken a vow, they stick to it: ‘Let us train right here, then we will be pure.’ Professing to be experts, they are led on to future lives.
Những người xem giới hạnh là tối thượng, họ nói sự thanh tịnh đến từ sự chế ngự. Họ chấp trì các khổ hạnh, và an trú trong đó. Họ nói: 'Chúng ta hãy tu tập ở đây để đạt được sự thanh tịnh ấy'. Họ bị dẫn dắt vào các cõi hữu, tự cho mình là người khéo léo.
Sace cuto sīlavatato hoti, Pavedhatī kamma virādhayitvā; Pajappatī patthayatī ca suddhiṁ, Satthāva hīno pavasaṁ gharamhā.
If they fall away from their precepts and vows, they tremble, having failed in their task. They pray and long for purity, like one who has lost their caravan <j>while journeying far from home.
Nếu người ấy bị rơi khỏi giới và hạnh, người ấy run rẩy vì đã làm hỏng việc tu tập của mình. Người ấy than van và mong cầu sự thanh tịnh, giống như người đi xa nhà bị đoàn lữ hành bỏ lại.
Sīlabbataṁ vāpi pahāya sabbaṁ, Kammañca sāvajjanavajjametaṁ; Suddhiṁ asuddhinti apatthayāno, Virato care santimanuggahāya.
But having given up all precepts and vows, and these deeds blameworthy or blameless; not longing for ‘purity’ or ‘impurity’, live detached, fostering peace.
Từ bỏ tất cả giới và hạnh, và cả nghiệp này, dù có lỗi hay không có lỗi, không mong cầu 'thanh tịnh' hay 'bất tịnh', vị ấy sống viễn ly, không chấp thủ vào sự an tịnh (tà kiến).
Tamūpanissāya jigucchitaṁ vā, Atha vāpi diṭṭhaṁ va sutaṁ mutaṁ vā; Uddhaṁsarā suddhimanutthunanti, Avītataṇhāse bhavābhavesu.
Relying on mortification in disgust of sin, or else on what is seen, heard, or thought, they moan that purification <j>comes through heading upstream, not rid of craving for life after life.
Nương tựa vào điều ấy, hoặc vào điều đáng ghê tởm, hoặc vào điều được thấy, nghe, hay cảm nhận, những người có tà kiến thượng lưu ca tụng sự thanh tịnh, trong khi họ chưa thoát khỏi ái dục trong các cõi hữu lớn nhỏ.
Patthayamānassa hi jappitāni, Pavedhitaṁ vāpi pakappitesu; Cutūpapāto idha yassa natthi, Sa kena vedheyya kuhiṁ va jappe”.
For one who longs there are muttered prayers, and trembling too over ideas they have formed. But one here for whom there is no passing away <j>or reappearing: why would they tremble? For what would they pray?”
Đối với người mong cầu, chắc chắn có những lời thì thầm (của ái dục), và có sự run rẩy đối với những gì được ngã tưởng. Người nào ở đây không còn chết và tái sanh, người ấy sẽ bị lay động bởi cái gì? Sẽ khao khát ở đâu?
“Yamāhu dhammaṁ paramanti eke, Tameva hīnanti panāhu aññe;
“The very same teaching that some say is ‘ultimate’, others say is inferior.
Pháp mà một số người gọi là tối thượng, thì những người khác lại nói chính pháp ấy là thấp kém.
Lời nói nào trong số này là chân thật? Vì tất cả những người này đều tự cho mình là người thiện xảo.
“Sakañhi dhammaṁ paripuṇṇamāhu, Aññassa dhammaṁ pana hīnamāhu; Evampi viggayha vivādayanti, Sakaṁ sakaṁ sammutimāhu saccaṁ.
“They say their own teaching is perfect, while the teaching of others is inferior. So arguing, they dispute, each saying their own conventions are the truth.
Họ nói pháp của mình là hoàn hảo, và nói pháp của người khác là thấp kém. Cứ như vậy, họ tranh cãi một cách gay gắt. Họ nói quy ước của riêng mình là chân thật.
Parassa ce vambhayitena hīno, Na koci dhammesu visesi assa; Puthū hi aññassa vadanti dhammaṁ, Nihīnato samhi daḷhaṁ vadānā.
If someone else’s disparagement makes you inferior, no one in any teaching would be distinguished. For each of them says the other’s teaching is lacking, while forcefully advocating their own.
Nếu một người trở nên thấp kém bởi sự chê bai của người khác, thì sẽ không có ai là đặc biệt trong các pháp. Vì nhiều người nói pháp của người khác là thấp kém, trong khi nói một cách chắc chắn về pháp của mình.
Saddhammapūjāpi nesaṁ tatheva, Yathā pasaṁsanti sakāyanāni; Sabbeva vādā tathiyā bhaveyyuṁ, Suddhī hi nesaṁ paccattameva.
But if they honor their own teachings just as they praise their own journeys, then all doctrines would be equally valid, and purity would be specific to them.
Việc tôn thờ chánh pháp của họ cũng giống như cách họ tán dương con đường của mình. Tất cả các học thuyết đều có thể là sự thật, vì sự thanh tịnh của họ chỉ là của riêng mỗi người.
Na brāhmaṇassa paraneyyamatthi, Dhammesu niccheyya samuggahītaṁ; Tasmā vivādāni upātivatto, Na hi seṭṭhato passati dhammamaññaṁ.
After judging among the teachings, <j>a brahmin has adopted nothing that requires interpretation by another. That’s why they’ve gotten over disputes, for they see no other doctrine as best.
Đối với vị Bà-la-môn, không có gì cần người khác dẫn dắt, không có sự chấp thủ quyết đoán nào trong các pháp. Do đó, vị ấy đã vượt qua các cuộc tranh luận, vì không thấy có pháp nào khác là tối thượng.
Jānāmi passāmi tatheva etaṁ, Diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṁ; Addakkhi ce kiñhi tumassa tena, Atisitvā aññena vadanti suddhiṁ.
Saying, ‘I know, I see, that’s how it is’, some believe that purity stems from view. But if they’ve really seen, <j>what use is that view to them? Overlooking what matters, <j>they say purity comes from another.
'Tôi biết, tôi thấy, nó đúng là như vậy.' Một số người tin vào sự thanh tịnh qua tà kiến. Nếu người ấy đã thấy, thì điều đó có ích gì cho người ấy? Vượt qua (chánh pháp), họ nói về sự thanh tịnh bằng một phương pháp khác.
Passaṁ naro dakkhati nāmarūpaṁ, Disvāna vā ñassati tānimeva; Kāmaṁ bahuṁ passatu appakaṁ vā, Na hi tena suddhiṁ kusalā vadanti.
When a person sees, they see name and form, and having seen, they will know just these things. Gladly let them see much or little, for those who are skilled say this is no way to purity.
Người đang thấy, thấy danh và sắc, và sau khi thấy, sẽ chỉ biết những thứ đó. Dù người ấy muốn thấy nhiều hay ít, những người khéo léo không nói rằng có sự thanh tịnh nhờ vào đó.
Nivissavādī na hi subbināyo, Pakappitaṁ diṭṭhi purakkharāno; Yaṁ nissito tattha subhaṁ vadāno, Suddhiṁ vado tattha tathaddasā so.
It’s not easy to educate someone who is dogmatic, promoting a view they have formulated. Speaking of the beauty <j>in that on which they depend, they talk of purity in accord with what they saw there.
Người có quan điểm cố chấp thì không dễ uốn nắn, người ấy đặt tà kiến đã được ngã tưởng lên hàng đầu. Nương tựa vào điều gì, người ấy nói điều đó là tốt đẹp. Người nói về sự thanh tịnh, đã thấy sự thật ở ngay nơi đó.
Na brāhmaṇo kappamupeti saṅkhā, Na diṭṭhisārī napi ñāṇabandhu; Ñatvā ca so sammutiyo puthujjā, Upekkhatī uggahaṇanti maññe.
The brahmin does not get involved <j>with formulating and calculating; they’re not followers of views, <j>nor kinsmen of notions. Having understood the many different conventions, they look on when others grasp.
Vị Bà-la-môn, sau khi đã biết, không đi vào sự ngã tưởng. Vị ấy không lấy tà kiến làm cốt lõi, cũng không bị trói buộc bởi tri kiến. Và sau khi biết các quy ước của phàm phu, vị ấy xả ly; trong khi những người khác thì chấp thủ chúng.
Vissajja ganthāni munīdha loke, Vivādajātesu na vaggasārī; Santo asantesu upekkhako so, Anuggaho uggahaṇanti maññe.
Having untied the knots here in the world, the sage takes no side among disputes. Peaceful among the peaceless, equanimous, they don’t grasp when others grasp.
Bậc Thánh nhân trong đời này, sau khi tháo gỡ các trói buộc, không theo phe phái trong các cuộc tranh luận đã phát sinh. Vị ấy an tịnh, xả ly giữa những người không an tịnh. Vị ấy không chấp thủ, trong khi những người khác thì chấp thủ.
Pubbāsave hitvā nave akubbaṁ, Na chandagū nopi nivissavādī; Sa vippamutto diṭṭhigatehi dhīro, Na lippati loke anattagarahī.
Having given up former defilements <j>and not making new ones, not swayed by preference, <j>nor a proponent of dogma, that attentive one is released from views, not clinging to the world, <j>nor reproaching themselves.
Từ bỏ các lậu hoặc cũ, không tạo ra các lậu hoặc mới, không đi theo dục vọng, cũng không phải là người có quan điểm cố chấp. Bậc trí tuệ ấy đã giải thoát khỏi các tà kiến. Vị ấy không bị ô nhiễm trong thế gian, không tự trách mình.
Sa sabbadhammesu visenibhūto, Yaṁ kiñci diṭṭhaṁ va sutaṁ mutaṁ vā; Sa pannabhāro muni vippamutto, Na kappiyo nūparato na patthiyo”ti.
They are remote from all things seen, heard, or thought. With burden put down, the sage is released: not formulating, not abstaining, not longing.”
Vị ấy đã chiến thắng tất cả các pháp, bất cứ điều gì được thấy, nghe, hay cảm nhận. Bậc Thánh nhân ấy đã đặt gánh nặng xuống, đã được giải thoát. Vị ấy không tạo tác, không còn kiêng cữ, không còn mong cầu.
Mahābyūhasuttaṁ terasamaṁ.
Kinh Đại Tập Hợp, kinh thứ mười ba, đã kết thúc.