- Saṁyutta Nikāya 8.7
- 1. Vaṅgīsavagga
Bản dịch
SN 8.7 — Kinh Tự Tứ (Pavāraṇā)
Pavāraṇāsutta
S.i,190Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Pubbārāma (Ðông Viên), Migāra—màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 5 Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 6 —Này Sāriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sāriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sāriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sāriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận.
Vi-n 7 —Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 8 —Này Sāriputta, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sāriputta, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ—kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Vi-n 10 —Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 11 Thế Tôn nói:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỷ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 8.7
- 1. With Vaṅgīsa
The Invitation to Admonish
7. Kinh Tự Tứ (Pavāraṇā)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi: “handa dāni, bhikkhave, pavāremi vo. Na ca me kiñci garahatha kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, together with a large Saṅgha of around five hundred monks, all of whom were perfected ones. Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks for the invitation to admonish.
Then the Buddha looked around the Saṅgha of monks, who were silent. He addressed them: “Come now, monks, I invite you all: Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
215. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra, cùng với đại chúng tỳ khưu gồm khoảng năm trăm vị, tất cả đều là A-la-hán. Vào lúc bấy giờ, vào ngày bố-tát rằm, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, được chúng tỳ khưu vây quanh để làm lễ tự tứ. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhìn quanh chúng tỳ khưu đang im lặng và gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, bây giờ ta mời các ngươi. Các ngươi có khiển trách ta điều gì về thân hay về lời nói không?”
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “na kho mayaṁ, bhante, bhagavato kiñci garahāma kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā. Bhagavā hi, bhante, anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido. Maggānugā ca, bhante, etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā; ahañca kho, bhante, bhagavantaṁ pavāremi. Na ca me bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
When he had spoken, Venerable Sāriputta rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said: “There is nothing, sir, that you’ve done by way of body or speech that we would criticize. For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later. And sir, I invite the Blessed One. Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, chúng con không có gì để khiển trách về thân nghiệp hay khẩu nghiệp của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, quả thật, Thế Tôn là bậc làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, là bậc làm cho con đường chưa được biết được biết đến, là bậc tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết, là bậc biết rõ con đường, là bậc thông suốt con đường, là bậc thiện xảo về con đường. Bạch Thế Tôn, hiện nay các vị đệ tử là những người đi sau, đi theo con đường và sống như vậy; và bạch Thế Tôn, con xin tự tứ với Thế Tôn. Thế Tôn có khiển trách con điều gì về thân nghiệp hay khẩu nghiệp không?'
“Na khvāhaṁ te, sāriputta, kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā. Paṇḍito tvaṁ, sāriputta, mahāpañño tvaṁ, sāriputta, puthupañño tvaṁ, sāriputta, hāsapañño tvaṁ, sāriputta, javanapañño tvaṁ, sāriputta, tikkhapañño tvaṁ, sāriputta, nibbedhikapañño tvaṁ, sāriputta. Seyyathāpi, sāriputta, rañño cakkavattissa jeṭṭhaputto pitarā pavattitaṁ cakkaṁ sammadeva anuppavatteti; evameva kho tvaṁ, sāriputta, mayā anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattesī”ti.
“There is nothing, Sāriputta, that you’ve done by way of body or speech that I would criticize. Sāriputta, you are astute. You have great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, penetrating wisdom. A wheel-turning monarch’s oldest son rightly keeps wielding the power set in motion by his father. In the same way, Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by me.”
Này Sāriputta, Ta không khiển trách ngươi điều gì về thân nghiệp hay khẩu nghiệp. Này Sāriputta, ngươi là bậc hiền trí; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ vĩ đại; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ rộng lớn; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ hoan hỷ; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ nhanh nhạy; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ sắc bén; này Sāriputta, ngươi có trí tuệ thể nhập. Này Sāriputta, ví như con trai trưởng của một vị Chuyển Luân Vương, tiếp tục làm quay một cách đúng đắn bánh xe đã được phụ vương làm cho quay; cũng vậy, này Sāriputta, ngươi tiếp tục làm quay một cách đúng đắn bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta làm cho quay.
“No ce kira me, bhante, bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā. Imesaṁ pana, bhante, bhagavā pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
“Imesampi khvāhaṁ, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā. Imesañhi, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ saṭṭhi bhikkhū tevijjā, saṭṭhi bhikkhū chaḷabhiññā, saṭṭhi bhikkhū ubhatobhāgavimuttā, atha itare paññāvimuttā”ti.
“Since it seems I have done nothing worthy of the Blessed One’s criticism, is there anything these five hundred monks have done by way of body or speech that you would criticize?”
“There is nothing, Sāriputta, that these five hundred monks have done by way of body or speech that I would criticize. For of these five hundred monks, sixty have the three knowledges, sixty have the six direct knowledges, sixty are freed both ways, and the rest are freed by wisdom.”
Bạch Thế Tôn, nếu như Thế Tôn không khiển trách con điều gì về thân nghiệp hay khẩu nghiệp, vậy thì, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có khiển trách điều gì về thân nghiệp hay khẩu nghiệp của năm trăm vị Tỳ khưu này không?' 'Này Sāriputta, Ta cũng không khiển trách điều gì về thân nghiệp hay khẩu nghiệp của năm trăm vị Tỳ khưu này. Này Sāriputta, trong năm trăm vị Tỳ khưu này, có sáu mươi vị Tỳ khưu là bậc Tam minh, sáu mươi vị Tỳ khưu là bậc Lục thông, sáu mươi vị Tỳ khưu là bậc Câu phần giải thoát, và những vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.'
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
Then Venerable Vaṅgīsa rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said, “I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
Khi ấy, Tôn giả Vaṅgīsa từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, một sự khởi hứng đến với con! Bạch Thiện Thệ, một sự khởi hứng đến với con!' Thế Tôn nói: 'Này Vaṅgīsa, hãy để nó khởi hứng nơi ngươi.' Khi ấy, Tôn giả Vaṅgīsa đã tán thán Thế Tôn ngay trước mặt ngài bằng những câu kệ thích hợp:
“Ajja pannarase visuddhiyā, Bhikkhū pañcasatā samāgatā; Saṁyojanabandhanacchidā, Anīghā khīṇapunabbhavā isī.
“Today, on the fifteenth day sabbath, five hundred monks have gathered together <j>to purify their precepts. These untroubled sages <j>have cut off their fetters and bonds, they will not be reborn again.
Hôm nay, ngày rằm, để được thanh tịnh, năm trăm vị Tỳ khưu đã tụ hội; các vị ẩn sĩ đã cắt đứt các trói buộc của kiết sử, không còn phiền não, đã đoạn tận tái sanh.
Cakkavattī yathā rājā, amaccaparivārito; Samantā anupariyeti, sāgarantaṁ mahiṁ imaṁ.
Just as a wheel-turning monarch surrounded by ministers travels all around this land girt by sea.
Như vị Chuyển Luân Vương, được các vị cận thần vây quanh, đi tuần du khắp nơi trên trái đất này cho đến tận bờ đại dương.
Evaṁ vijitasaṅgāmaṁ, satthavāhaṁ anuttaraṁ; Sāvakā payirupāsanti, tevijjā maccuhāyino.
So disciples with the three knowledges, conquerors of death, revere the winner of the battle, the unsurpassed caravan leader.
Cũng vậy, các đệ tử, những bậc Tam minh đã vượt qua thần chết, đang hầu cận bậc Lãnh đạo đoàn lữ hành vô thượng, người đã chiến thắng trong cuộc chiến.
Sabbe bhagavato puttā, palāpettha na vijjati; Taṇhāsallassa hantāraṁ, vande ādiccabandhunan”ti.
All are sons of the Blessed One—there is no rubbish here. I bow to the Kinsman of the Sun, destroyer of the dart of craving.”
Tất cả đều là con của Thế Tôn, ở đây không tìm thấy kẻ rơm rác; con xin đảnh lễ bậc đã nhổ lên mũi tên ái dục, bậc Thân Quyến của mặt trời.