- Saṁyutta Nikāya 7.3
- 1. Arahantavagga
Bản dịch
SN 7.3 — Kinh Asurindaka
Asurindakasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Bà-la-môn Asurindaka Bharadvāja nghe như sau: ” Bà-la-môn thuộc dòng họ Bharadvāja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Vi-n 3 Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Vi-n 4 Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.
Vi-n 5 Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bharadvāja nói với Thế Tôn:
—Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục!
Vi-n 6 (Thế Tôn):Kẻ ngu nghĩ mình thắng,
Khi nói lời ác ngữ,
Ai biết chịu kham nhẫn,
Kẻ ấy thật thắng trận.
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người.
Những ai bị phỉ báng,
Không phỉ báng đối lại,
Người ấy đã thắng trận,
Thắng cho mình cho người.
Vị ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người,
Và kẻ đã phỉ báng,
Tự hiểu, lắng nguội dần.
Bậc y sư cả hai,
Chữa mình, chữa cho người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không hiểu Chánh pháp.
Vi-n 7 Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama…,” … không còn trở lại đời sống này nữa.”
Vi-n 8 Và Tôn giả Bharadvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 7.3
- 1. The Perfected Ones
With Bhāradvāja the Fiend
3. Kinh Asurindaka
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Assosi kho asurindakabhāradvājo brāhmaṇo: “bhāradvājagotto brāhmaṇo kira samaṇassa gotamassa santike agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti kupito anattamano yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati.
Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Atha kho asurindakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “jitosi, samaṇa, jitosi, samaṇā”ti.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. The brahmin Bhāradvāja the Fiend heard a rumor to the effect that a brahmin of the Bhāradvāja clan had gone forth from the lay life to homelessness in the presence of the ascetic Gotama. Angry and displeased he went to the Buddha and abused and insulted him with rude, harsh words.
But when he said this, the Buddha kept silent.
Then Bhāradvāja the Fiend said to the Buddha, “You’re beaten, ascetic, you’re beaten!”
189. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bà-la-môn Asurindakabhāradvāja nghe được rằng: “Nghe nói một vị bà-la-môn thuộc dòng dõi Bhāradvāja đã từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình dưới sự hiện diện của sa-môn Gotama.” Phẫn nộ, không hài lòng, vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy mắng nhiếc, lăng mạ đức Thế Tôn bằng những lời lẽ không xứng đáng, thô lỗ. Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn vẫn im lặng. Bấy giờ, bà-la-môn Asurindakabhāradvāja bạch với đức Thế Tôn rằng: “Ngài đã thua, thưa sa-môn, ngài đã thua, thưa sa-môn!”
“Jayaṁ ve maññati bālo, vācāya pharusaṁ bhaṇaṁ; Jayañcevassa taṁ hoti, yā titikkhā vijānato.
“‘Ha! I won!’ thinks the fool, when speaking with harsh words. The victory for one who understands is that very endurance.
“Kẻ ngu nói lời thô lỗ, tự cho mình là chiến thắng. Nhưng đối với người có trí, sự kham nhẫn chính là chiến thắng của vị ấy.”
Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṁ paṭikujjhati; Kuddhaṁ appaṭikujjhanto, saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
When you get angry at an angry person you just make things worse for yourself. When you don’t get angry at an angry person you win a battle hard to win.
“Người nổi giận lại với kẻ đang giận, chính vì thế mà trở nên tồi tệ hơn. Người không nổi giận lại với kẻ đang giận, là chiến thắng một trận chiến khó thắng.”
Ubhinnamatthaṁ carati, attano ca parassa ca; Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā, yo sato upasammati.
When you know that the other is angry, you act for the good of both yourself and the other if you’re mindful and stay calm.
“Người biết kẻ khác đang phẫn nộ, mà chánh niệm giữ được bình tĩnh, là đang thực hành lợi ích cho cả hai, cho mình và cho người.”
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ, attano ca parassa ca; Janā maññanti bāloti, ye dhammassa akovidā”ti.
People inexpert in Dhamma consider one who heals both oneself and the other to be a fool.”
“Người đang chữa lành cho cả hai, cho mình và cho người, thì những kẻ không thông hiểu Chánh pháp lại cho rằng đó là kẻ ngu.”
Evaṁ vutte, asurindakabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.
When he had spoken, Bhāradvāja the Fiend said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! …” … And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
Khi được nói như vậy, bà-la-môn Asurindakabhāradvāja bạch với đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu thay, thưa ngài Gotama… (cho đến) … vị ấy đã biết rõ.” Và tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một trong các vị A-la-hán.