- Saṁyutta Nikāya 7.20
- 2. Upāsakavagga
Bản dịch
SN 7.20 — Kinh Người Ăn Xin
Bhikkhakasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Bhikkhaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, con là người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa chúng ta?
Vi-n 4 (Thế Tôn):Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỷ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng “Tỷ-kheo”.
Vi-n 5 Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! … Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 7.20
- 2. Lay Followers
An Almsman
10. Kinh Người Ăn Xin
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho bhikkhako brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “ahampi kho, bho gotama, bhikkhako, bhavampi bhikkhako, idha no kiṁ nānākaraṇan”ti?
At Sāvatthī.
Then a brahmin almsman went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha, “Worthy Gotama, both you and I are almsmen. What, then, is the difference between us?”
206. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi, bà-la-môn Bhikkhaka đã đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã cùng với đức Thế Tôn trao đổi lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà-la-môn Bhikkhaka bạch với đức Thế Tôn lời này: “Thưa ngài Gotama, con cũng là người ăn xin, ngài cũng là người ăn xin. Ở đây, có sự khác biệt nào giữa chúng ta?”
“Na tena bhikkhako hoti, yāvatā bhikkhate pare; Vissaṁ dhammaṁ samādāya, bhikkhu hoti na tāvatā.
“You don’t become an almsman just by begging alms from others. One who has undertaken domestic duties has not yet become a mendicant.
“Không phải chỉ vì đi xin người khác mà trở thành một vị Tỳ khưu. Kẻ nào còn chấp giữ pháp hôi thối, thì cũng không phải vì thế mà trở thành một vị Tỳ khưu.”
Yodha puññañca pāpañca, bāhitvā brahmacariyaṁ; Saṅkhāya loke carati, sa ve bhikkhūti vuccatī”ti.
But one living a spiritual life who has banished both merit and evil, and wanders having appraised the world, is said to be a mendicant.”
“Người nào ở đời này, sau khi đã loại bỏ cả phước và tội, sống đời phạm hạnh với sự hiểu biết, người ấy thực sự được gọi là Tỳ khưu.”
Evaṁ vutte, bhikkhako brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When he had spoken, the brahmin almsman said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, bà-la-môn Bhikkhaka bạch với đức Thế Tôn lời này: “Thật vi diệu, thưa ngài Gotama! Thật vi diệu, thưa ngài Gotama! ... (v.v)... Kể từ hôm nay, mong ngài Gotama hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã đi đến nương tựa trọn đời.”