- Saṁyutta Nikāya 55.9
- 1. Veḷudvāravagga
Bản dịch
SN 55.9 — Kinh Quán Trọ Lợp Ngói (thứ hai)
Dutiyagiñjakāvasathasutta
Vi-n 1-2. … ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Asokà đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào? Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo-ni Asokà đã mệnh chung … Nam cư sĩ Asokà đã mệnh chung … Nữ cư sĩ Asokà đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy thế nào, sanh xứ chỗ nào?
Vi-n 3-6. —Này Ānanda, Tỷ-kheo Asokà đã mệnh chung, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát … (như kinh trên 8, đoạn số 3 với Tỷ-kheo-ni Asokà, nam cư sĩ Asokà và nữ cư sĩ Asokà) …
Vi-n 7 Này Ānanda, đây là pháp môn Pháp kính, thành tựu pháp môn này, vị Thánh đệ tử nếu muốn, tự mình tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, ta đã đoạn tận khỏi sanh vào loài bàng sanh, ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ, ta đã đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.9
- 1. At Bamboo Gate
At the Brick Hall (2nd)
9. Kinh Quán Trọ Lợp Ngói (thứ hai)
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“asoko nāma, bhante, bhikkhu kālaṅkato; tassa kā gati, ko abhisamparāyo? Asokā nāma, bhante, bhikkhunī kālaṅkatā …pe… asoko nāma, bhante, upāsako kālaṅkato …pe… asokā nāma, bhante, upāsikā kālaṅkatā; tassā kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Ānanda said to the Buddha:
“Sir, the monk named Asoka has passed away. Where has he been reborn in his next life? The nun named Asokā, the layman named Asoka, and the laywoman named Asokā have passed away. Where have they been reborn in the next life?”
1005. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-khưu tên là Asoka đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao? Bạch Thế Tôn, Tỳ-khưu-ni tên là Asokā đã mệnh chung ... Bạch Thế Tôn, nam cận sự tên là Asoka đã mệnh chung ... Bạch Thế Tôn, nữ cận sự tên là Asokā đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì, đời sau sẽ ra sao?’”
“Asoko, ānanda, bhikkhu kālaṅkato āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi …pe…
(purimaveyyākaraṇena ekanidānaṁ.)
“Ānanda, the monk Asoka passed away having realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom … in this very life …
(And all is explained as in SN 55.8.)
“Này Ānanda, Tỳ-khưu Asoka sau khi mệnh chung, do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ... (giống như lời giải thích trước, cùng một duyên khởi).”
Ayaṁ kho so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo; yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya: ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Navamaṁ.
This is that mirror of the teaching. A noble disciple who has this may declare of themselves: ‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’”
“Này Ānanda, đây chính là pháp môn Pháp Kính, nhờ đó vị Thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận sanh thú của loài bàng sanh, đoạn tận cảnh giới của loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ đạt đến chánh giác.’”