- Saṁyutta Nikāya 55.41
- 5. Sagāthakapuññābhisandavagga
Bản dịch
SN 55.41 — Kinh Dòng Phước, kinh thứ nhất
Paṭhamaabhisandasutta
Sung Mãn Với Kệ
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này. Thế nào là bốn?
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ nhất. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Ðây là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc thứ tư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc.
Vi-n 4 Với vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được vô lượng phước đức: “Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc”. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thật không dễ đếm được số lượng nước trong biển lớn là có bao nhiêu thùng, hay có bao nhiêu trăm thùng, hay có bao nhiêu trăm ngàn thùng. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng nước lớn tụ tập. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc này, thật không dễ gì đếm được số lượng phước đức: “Số lượng như thế này là phước đức sung mãn, thiện sung mãn, món ăn cho lạc”. Chúng chỉ có thể gọi được là vô số, vô lượng, đại uẩn phước đức.
Vi-n 6 Thế Tôn nói như vầy:
Là đại dương, đại hải,
Nước mênh mông rộng lớn,
Ðầy rẫy những hãi hùng,
Chứa vô lượng trân châu,
Phục vụ trăm ngàn người,
Các con sông lớn, nhỏ,
Chúng tuôn chảy ồ ạt,
Chúng đổ về bể khơi.
Cũng vậy là những người,
Thí đồ ăn, uống, vải,
Bố thí giường, chỗ ngồi,
Mền, nệm, các đồ nằm,
Vô lượng nguồn phước đức,
Từ kẻ trí tuôn chảy,
Như sông hồ đầy nước,
Chảy tuôn ra bể cả.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.41
- 5. Overflowing Merit, With Verses
Overflowing Merit (1st)
1. Kinh Dòng Phước, kinh thứ nhất
“Cattārome, bhikkhave, puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā. Katame cattāro? Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Ayaṁ paṭhamo puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro.
“Mendicants, there are these four kinds of overflowing merit, overflowing goodness that nurture happiness. What four? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
1037. “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước, dòng thiện này, là nguồn nuôi dưỡng an lạc. Bốn điều ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật: ‘Như vậy, đức Thế Tôn là bậc... cho đến... là bậc Thiên Nhân Sư, là bậc Phật, là đức Thế Tôn.’ Đây là dòng phước, dòng thiện, nguồn nuôi dưỡng an lạc thứ nhất.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử (thành tựu niềm tin bất động) đối với Pháp... cho đến... đối với Tăng...
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi. Ayaṁ catuttho puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro. Ime kho, bhikkhave, cattāro puññābhisandā, kusalābhisandā, sukhassāhārā.
Furthermore, they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion. … These are the four kinds of overflowing merit, overflowing goodness that nurture happiness.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị sứt mẻ... cho đến... có tác dụng đưa đến định. Đây là dòng phước, dòng thiện, nguồn nuôi dưỡng an lạc thứ tư. Này các Tỳ khưu, đây chính là bốn dòng phước, dòng thiện, nguồn nuôi dưỡng an lạc.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṁ puññassa pamāṇaṁ gaṇetuṁ: ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. Atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandhotveva saṅkhyaṁ gacchati.
When a noble disciple has these four kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to count how much merit they have by saying that this is the extent of their overflowing merit, overflowing goodness that nurtures happiness. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.
“Này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử đã thành tựu bốn dòng phước, dòng thiện này, thật không dễ gì để đo lường được phước đức rằng: ‘Dòng phước, dòng thiện, nguồn nuôi dưỡng an lạc này là chừng ấy.’ Mà trái lại, nó được xem là một khối phước đức vĩ đại, không thể đếm được, không thể đo lường được.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamudde na sukaraṁ udakassa pamāṇaṁ gaṇetuṁ: ‘ettakāni udakāḷhakānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasahassānī’ti vā ‘ettakāni udakāḷhakasatasahassānī’ti vāti. Atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāudakakkhandhotveva saṅkhyaṁ gacchati.
Evameva kho, bhikkhave, imehi catūhi puññābhisandehi kusalābhisandehi samannāgatassa ariyasāvakassa na sukaraṁ puññassa pamāṇaṁ gaṇetuṁ: ‘ettako puññābhisando, kusalābhisando, sukhassāhāro’ti. Atha kho asaṅkhyeyyo appameyyo mahāpuññakkhandhotveva saṅkhyaṁ gacchatī”ti.
It’s like trying to count how much water is in the ocean. It’s not easy to say how many gallons, how many hundreds, thousands, hundreds of thousands of gallons there are. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of water.
In the same way, when a noble disciple has these four kinds of overflowing merit and goodness, it’s not easy to count how much merit they have by saying that this is the extent of their overflowing merit, overflowing goodness that nurtures happiness. It’s simply reckoned as an incalculable, immeasurable, great mass of merit.”
“Ví như, này các Tỳ khưu, trong đại dương, thật không dễ gì để đo lường được lượng nước rằng: ‘Có chừng ấy đấu nước,’ hay ‘có chừng ấy trăm đấu nước,’ hay ‘có chừng ấy ngàn đấu nước,’ hay ‘có chừng ấy trăm ngàn đấu nước.’ Mà trái lại, nó được xem là một khối nước vĩ đại, không thể đếm được, không thể đo lường được. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử đã thành tựu bốn dòng phước, dòng thiện này, thật không dễ gì để đo lường được phước đức rằng: ‘Dòng phước, dòng thiện, nguồn nuôi dưỡng an lạc này là chừng ấy.’ Mà trái lại, nó được xem là một khối phước đức vĩ đại, không thể đếm được, không thể đo lường được.”
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Sau khi thuyết điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Mahodadhiṁ aparimitaṁ mahāsaraṁ, Bahubheravaṁ ratanagaṇānamālayaṁ; Najjo yathā naragaṇasaṅghasevitā, Puthū savantī upayanti sāgaraṁ.
“Hosts of people use the rivers, and though the rivers are many, all reach the great deep, the boundless ocean, the cruel sea that’s home to precious gems.
“Như các dòng sông, được các nhóm người lui tới, chảy cuồn cuộn, đổ về biển cả, là hồ lớn vô lượng, đầy hiểm nguy, là nơi chứa nhóm các bảo vật.
Evaṁ naraṁ annapānavatthadadaṁ,
So too, when a person gives food, drink, and clothes;
“Cũng vậy, các dòng phước đức đổ về người hiền trí, người bố thí cơm, nước, y phục, người cúng dường giường nằm và vật trải, như các dòng sông mang nước đổ về biển cả.” Kinh thứ nhất.
Paṭhamaṁ.
Cũng vậy, các dòng phước đổ về người hiền trí, người cho cơm ăn, nước uống, vải mặc, người cho giường nằm và vật trải, như các dòng sông mang nước đổ về biển cả. (Kinh thứ hai)