- Saṁyutta Nikāya 55.39
- 4. Puññābhisandavagga
Bản dịch
SN 55.39 — Kinh Kāḷigodhā
Kāḷigodhasutta
Vi-n 1 Lúc bấy giờ Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Cây Bàng.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của Thích nữ Kàligodhà; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Vi-n 3 Rồi Thích nữ Kàligodhà đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Thích nữ Kàligodhà đang ngồi một bên:
—Thành tựu bốn pháp, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, này Godhà, vị nữ Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Vị này trú ở gia đình, tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí. Này Godhà, thành tựu bốn pháp này, một nữ Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Vi-n 5 —Bốn Dự lưu phần được Thế Tôn thuyết giảng này, bạch Thế Tôn, chúng đều có trong con. Con thực hiện những pháp này. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Như Lai … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … Phàm những vật gì được đem bố thí trong gia đình, tất cả đều được phân phát cho những người có giới và những người làm thiện.
Vi-n 6 —Lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Thật khéo lợi đắc thay cho Người, này Godhà! Này Godhà, Người đã tuyên bố về Dự lưu quả.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.39
- 4. Overflowing Merit
With Kāḷigodhā
9. Kinh Kāḷigodhā
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kāḷigodhāya sākiyāniyā nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho kāḷigodhā sākiyānī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho kāḷigodhaṁ sākiyāniṁ bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of Kāḷigodhā the Sakyan lady, where he sat down on the seat spread out. Then Kāḷigodhā went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to her:
1035. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa những người Sakya, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Kāḷigodhā dòng Sakya; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, nữ cư sĩ Kāḷigodhā dòng Sakya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, bà đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nữ cư sĩ Kāḷigodhā dòng Sakya đang ngồi một bên như sau:
“Catūhi kho, godhe, dhammehi samannāgatā ariyasāvikā sotāpannā hoti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. Katamehi catūhi? Idha, godhe, ariyasāvikā buddhe aveccappasādena samannāgatā hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgā payatapāṇinī vossaggaratā yācayogā dānasaṁvibhāgaratā. Imehi kho, godhe, catūhi dhammehi samannāgatā ariyasāvikā sotāpannā hoti avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti.
“Godhā, a female noble disciple who has four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. What four? It’s when a female noble disciple has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And she lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. A female noble disciple who has these four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
“Này Godhā, nữ Thánh đệ tử nào thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Bốn pháp nào? Này Godhā, ở đây, nữ Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động vào Đức Phật: ‘Như vậy, Thế Tôn là bậc... ... là bậc Thiên Nhân Sư, là Phật, là Thế Tôn.’ ... vào Pháp... ... vào Tăng... ... với tâm không còn vết nhơ của xan tham, sống tại gia, bố thí rộng rãi, bàn tay sạch sẽ, ưa thích xả thí, sẵn sàng cho người xin, ưa thích chia sẻ vật thí. Này Godhā, nữ Thánh đệ tử nào thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ.”
“Yānimāni, bhante, bhagavatā cattāri sotāpattiyaṅgāni desitāni, saṁvijjante dhammā mayi, ahañca tesu dhammesu sandissāmi. Ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgatā—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… yaṁ kho pana kiñci kule deyyadhammaṁ sabbaṁ taṁ appaṭivibhattaṁ sīlavantehi kalyāṇadhammehī”ti.
“Lābhā te, godhe, suladdhaṁ te, godhe. Sotāpattiphalaṁ tayā, godhe, byākatan”ti.
Navamaṁ.
“Sir, these four factors of stream-entry that were taught by the Buddha are found in me, and I exhibit them. For I have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And I share without reservation all the gifts available to give in our family with those who are ethical and of good character.”
“You’re fortunate, Godhā, so very fortunate, You have declared the fruit of stream-entry.”
“Bạch Thế Tôn, bốn chi phần Dự lưu mà Thế Tôn đã thuyết giảng, những pháp ấy có mặt nơi con, và con được thấy rõ trong những pháp ấy. Bạch Thế Tôn, quả thật con thành tựu niềm tin bất động vào Đức Phật: ‘Như vậy, Thế Tôn là bậc... ... là bậc Thiên Nhân Sư, là Phật, là Thế Tôn.’ ... vào Pháp... ... vào Tăng... ... và bất cứ vật gì có thể cho đi trong gia đình, tất cả những thứ ấy con đều chia sẻ không phân biệt với những người có giới hạnh, có thiện pháp.” “Này Godhā, thật là lợi ích cho bà! Này Godhā, thật là khéo được cho bà! Này Godhā, bà đã tuyên bố quả Dự lưu.” (Phẩm thứ chín)