- Saṁyutta Nikāya 55.11
- 2. Rājakārāmavagga
Bản dịch
SN 55.11 — Kinh Tăng Đoàn Một Ngàn Vị Tỳ Khưu Ni
Sahassabhikkhunisaṅghasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại khu vườn Ràjaka.
Vi-n 2 Rồi một chúng gồm một ngàn Tỷ-kheo-ni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni đang đứng một bên:
—Này các Tỷ-kheo-ni, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo-ni, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 5-6. … đối với Pháp … đối với Tăng …
Vi-n 7 Vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 8 Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo-ni, bậc Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.11
- 2. The Royal Monastery
A Saṅgha of a Thousand Nuns
1. Kinh Tăng Đoàn Một Ngàn Vị Tỳ Khưu Ni
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati rājakārāme. Atha kho sahassabhikkhunisaṅgho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā bhikkhuniyo bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the Royal Monastery. Then a Saṅgha of a thousand nuns went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to them:
1007. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại tu viện Rājakārāma. Bấy giờ, tăng đoàn một ngàn vị tỳ khưu ni đi đến nơi Thế Tôn ngự; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, họ đứng một bên. Thế Tôn nói điều này với các vị tỳ khưu ni đang đứng một bên:
“Catūhi kho, bhikkhuniyo, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo. Katamehi catūhi? Idha, bhikkhuniyo, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti. Dhamme …pe… saṅghe …pe… ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti, akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi. Imehi kho, bhikkhuniyo, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Paṭhamaṁ.
“Nuns, a noble disciple who has four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. What four? It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion. A noble disciple who has these four things is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
— Này các tỳ khưu ni, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Bốn pháp nào? Này các tỳ khưu ni, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động nơi Đức Phật: ‘Vì lý do này, Thế Tôn là bậc A-la-hán… (lược)… là Thầy của trời và người, là Phật, là Thế Tôn’. (Thành tựu niềm tin bất động) nơi Pháp… (lược)… nơi Tăng… (lược)… Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái mộ, không bị sứt mẻ… (lược)… đưa đến định. Này các tỳ khưu ni, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự Lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn hướng đến giác ngộ. (Kinh thứ nhất).