- Saṁyutta Nikāya 54.2
- 1. Ekadhammavagga
Bojjhaṅgasutta
“Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā?
Bản dịch
Bojjhaṅgasutta
Vi-n 1-2. Tại Sāvatthi … Tại đấy … nói như sau:
Vi-n 3 —Niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với niệm hơi thở vô, hơi thở ra, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi …; tu tập tinh tấn giác chi …; tu tập hỷ giác chi …; tu tập khinh an giác chi…; tu tập niệm giác chi…; tu tập định giác chi…; tu tập xả giác chi câu hữu với niệm hơi thở vô, hơi thở ra, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Vi-n 5 Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ānāpānassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṁ bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā?
“Mendicants, when mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. And how is mindfulness of breathing developed and cultivated to be very fruitful and beneficial?
980. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có lợi ích lớn? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi ngồi xuống, sau khi xếp chân kiết-già, giữ thân thẳng, an trú niệm trước mặt. Vị ấy thở ra chánh niệm, thở vô chánh niệm... cho đến... vị ấy thực hành: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra,’ vị ấy thực hành: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.’ Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này các Tỳ khưu, do niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, một trong hai quả được chờ đợi: ngay trong hiện tại là chánh trí, hoặc nếu còn có dư y, là quả Bất Lai. (Kinh) thứ tư.
979. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có lợi ích lớn? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi ngồi xuống, sau khi xếp chân kiết-già, giữ thân thẳng, an trú niệm trước mặt. Vị ấy thở ra chánh niệm, thở vô chánh niệm... cho đến... vị ấy thực hành: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra,’ vị ấy thực hành: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô.’ Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Kinh) thứ ba.
Dutiyaṁ.
978. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có lợi ích lớn? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu tu tập niệm giác chi đi kèm với niệm hơi thở vô hơi thở ra, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi đi kèm với niệm hơi thở vô hơi thở ra... cho đến... tu tập xả giác chi đi kèm với niệm hơi thở vô hơi thở ra, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỳ khưu, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Kinh) thứ hai.