- Saṁyutta Nikāya 48.52
- 6. Sūkarakhatavagga
Mallikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Mallikasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Mallikà, tại một thị trấn của dân chúng Mallikà tên là Uruvelakappa.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nhà có mái nhọn chưa được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà chưa được an trú. Và này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào xà ngang của một nóc nhà có mái nhọn được gác qua, cho đến khi ấy, các kèo nhà được đẳng trú, cho đến khi ấy, các kèo nhà được an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú. Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú. Thế nào là bốn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn.
Vi-n 5 Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên lòng tin được đẳng trú, tất nhiên tinh tấn được đẳng trú, tất nhiên niệm được đẳng trú, tất nhiên định được đẳng trú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Mallikā
521. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Sālā. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: 'Này các Tỳ khưu, ví như trong các loài bàng sanh, sư tử, vua của các loài thú, được xem là tối thượng, tức là về sức mạnh, tốc độ, và dũng mãnh; cũng vậy, này các Tỳ khưu, trong các pháp thuộc phần giác ngộ, tuệ quyền được xem là tối thượng, tức là để giác ngộ.'
“yāvakīvañca, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti. Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti.
“Mendicants, as long as noble knowledge hasn’t arisen for a noble disciple the four faculties are not stable and fixed. But when noble knowledge has arisen for a noble disciple the four faculties become stable and fixed.
522. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Mallā, tại một thị trấn của dân Mallā tên là Uruvelakappa. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, chừng nào Thánh trí chưa sanh khởi cho vị Thánh đệ tử, chừng đó chưa có sự an lập của bốn quyền, chừng đó chưa có sự kiên cố của bốn quyền. Và này các Tỳ khưu, khi Thánh trí đã sanh khởi cho vị Thánh đệ tử, bấy giờ có sự an lập của bốn quyền, bấy giờ có sự kiên cố của bốn quyền.”
Seyyathāpi, bhikkhave, yāvakīvañca kūṭāgārassa kūṭaṁ na ussitaṁ hoti, neva tāva gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti. Yato ca kho, bhikkhave, kūṭāgārassa kūṭaṁ ussitaṁ hoti, atha gopānasīnaṁ saṇṭhiti hoti, atha gopānasīnaṁ avaṭṭhiti hoti.
Evameva kho, bhikkhave, yāvakīvañca ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ na uppannaṁ hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ saṇṭhiti hoti, neva tāva catunnaṁ indriyānaṁ avaṭṭhiti hoti. Yato ca kho, bhikkhave, ariyasāvakassa ariyañāṇaṁ uppannaṁ hoti, atha catunnaṁ indriyānaṁ …pe… avaṭṭhiti hoti.
It’s just like in a bungalow. As long as the roof peak is not lifted into place, the rafters are not stable or fixed. But when the roof peak is lifted into place, the rafters become stable and fixed.
In the same way, as long as noble knowledge hasn’t arisen for a noble disciple the four faculties are not stable and fixed. But when noble knowledge has arisen for a noble disciple the four faculties become stable and fixed.
“Này các Tỳ khưu, ví như chừng nào nóc nhọn của ngôi nhà có nóc nhọn chưa được dựng lên, chừng đó chưa có sự an lập của các kèo, chừng đó chưa có sự kiên cố của các kèo. Và này các Tỳ khưu, khi nóc nhọn của ngôi nhà có nóc nhọn đã được dựng lên, bấy giờ có sự an lập của các kèo, bấy giờ có sự kiên cố của các kèo. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, chừng nào Thánh trí chưa sanh khởi cho vị Thánh đệ tử, chừng đó chưa có sự an lập của bốn quyền, chừng đó chưa có sự kiên cố của bốn quyền. Và này các Tỳ khưu, khi Thánh trí đã sanh khởi cho vị Thánh đệ tử, bấy giờ có sự... (v.v.)... kiên cố của bốn quyền.
Katamesaṁ catunnaṁ? Saddhindriyassa, vīriyindriyassa, satindriyassa, samādhindriyassa. Paññavato, bhikkhave, ariyasāvakassa tadanvayā saddhā saṇṭhāti, tadanvayaṁ vīriyaṁ saṇṭhāti, tadanvayā sati saṇṭhāti, tadanvayo samādhi saṇṭhātī”ti.
Dutiyaṁ.
What four? The faculties of faith, energy, mindfulness, and immersion. When a noble disciple has wisdom, the faith, energy, mindfulness, and immersion that follow along with that become stabilized.”
“Của bốn quyền nào? Của tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền. Này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, đức tin đi theo trí tuệ ấy được an lập, tinh tấn đi theo trí tuệ ấy được an lập, niệm đi theo trí tuệ ấy được an lập, định đi theo trí tuệ ấy được an lập.” (Kinh) thứ hai.