- Saṁyutta Nikāya 48.11
- 2. Mudutaravagga
Bản dịch
SN 48.11 — Kinh Thành Tựu
Paṭilābhasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có năm căn. Thế nào là năm? Tín căn … tuệ căn.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc … Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn?
Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn chánh cần, thâu nhận tinh tấn; này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Này các Tỷ-kheo, khi tu tập bốn niệm xứ, thâu nhận niệm; này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định căn.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt (các pháp), với trí tuệ các bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, những pháp này là năm căn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.11
- 2. Weaker
Gain
1. Kinh Thành Tựu
“Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ …pe….
Katamañca, bhikkhave, saddhindriyaṁ? Idha, bhikkhave, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti—idaṁ vuccati, bhikkhave, saddhindriyaṁ.
“Mendicants, there are these five faculties. What five? The faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
And what is the faculty of faith? It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is called the faculty of faith.
481. “Này các Tỳ khưu, có năm quyền này. Thế nào là năm? Tín quyền... cho đến... Tuệ quyền... Này các Tỳ khưu, thế nào là Tín quyền? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai: ‘Vì lý do này, Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Tín quyền.”
Katamañca, bhikkhave, vīriyindriyaṁ? Yaṁ kho, bhikkhave, cattāro sammappadhāne ārabbha vīriyaṁ paṭilabhati—idaṁ vuccati, bhikkhave, vīriyindriyaṁ.
And what is the faculty of energy? The energy that’s gained owing to the four right efforts. This is called the faculty of energy.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là Tinh tấn quyền? Này các Tỳ khưu, tinh tấn nào được thành tựu do nương vào bốn Chánh cần, này các Tỳ khưu, đây được gọi là Tinh tấn quyền.”
Katamañca, bhikkhave, satindriyaṁ? Yaṁ kho, bhikkhave, cattāro satipaṭṭhāne ārabbha satiṁ paṭilabhati—idaṁ vuccati, bhikkhave, satindriyaṁ.
And what is the faculty of mindfulness? The mindfulness that’s gained owing to the four kinds of mindfulness meditation. This is called the faculty of mindfulness.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là Niệm quyền? Này các Tỳ khưu, niệm nào được thành tựu do nương vào bốn Niệm xứ, này các Tỳ khưu, đây được gọi là Niệm quyền.”
Katamañca, bhikkhave, samādhindriyaṁ? Idha, bhikkhave, ariyasāvako vossaggārammaṇaṁ karitvā labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ—idaṁ vuccati, bhikkhave, samādhindriyaṁ.
And what is the faculty of immersion? It’s when a noble disciple, relying on letting go, gains immersion, gains unification of mind. This is called the faculty of immersion.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là Định quyền? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử lấy sự xả ly làm đối tượng, đạt được định, đạt được nhất tâm. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Định quyền.”
Katamañca, bhikkhave, paññindriyaṁ? Idha, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā—idaṁ vuccati, bhikkhave, paññindriyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, pañcindriyānī”ti.
Paṭhamaṁ.
And what is the faculty of wisdom? It’s when a noble disciple is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is called the faculty of wisdom.
These are the five faculties.”
“Này các Tỳ khưu, thế nào là Tuệ quyền? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chơn chánh. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Tuệ quyền. Này các Tỳ khưu, đây chính là năm quyền.” Hết bài kinh thứ nhất.