- Saṁyutta Nikāya 47.7
- 1. Ambapālivagga
Bản dịch
SN 47.7 — Kinh Con Khỉ
Makkaṭasutta
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài vượn, loài người qua lại.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài vượn qua lại, không có loài người.
Vi-n 5 Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa (lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. “Ta sẽ gỡ bàn tay ra”, nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai tay ra”, nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra”, nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân”, nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của mình.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?
Vi-n 9 Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
Vi-n 12 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời…; trú, quán thọ trên các cảm thọ…; trú, quán tâm trên tâm…; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.7
- 1. In Ambapālī’s Mango Grove
A Monkey
7. Kinh Con Khỉ
“Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha neva makkaṭānaṁ cārī na manussānaṁ. Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha makkaṭānañhi kho cārī, na manussānaṁ. Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa samā bhūmibhāgā ramaṇīyā, yattha makkaṭānañceva cārī manussānañca. Tatra, bhikkhave, luddā makkaṭavīthīsu lepaṁ oḍḍenti makkaṭānaṁ bādhanāya.
“Mendicants, in the Himalayas there are regions that are rugged and impassable. In some such regions, neither monkeys nor humans can go, while in others, monkeys can go but not humans. There are also level, pleasant places where both monkeys and humans can go. There hunters set snares of tar on the monkey trails to catch the monkeys.
373. “Này các Tỳ khưu, có những vùng đất khó đi, không bằng phẳng ở vua núi Hy-mã-lạp, nơi mà loài khỉ không đi lại được và loài người cũng không đi lại được. Này các Tỳ khưu, có những vùng đất khó đi, không bằng phẳng ở vua núi Hy-mã-lạp, nơi mà chỉ có loài khỉ đi lại được, chứ loài người thì không. Này các Tỳ khưu, có những vùng đất bằng phẳng, khả ái ở vua núi Hy-mã-lạp, nơi mà cả loài khỉ và loài người đều đi lại được. Này các Tỳ khưu, tại nơi đó, những người thợ săn đặt bẫy nhựa cây trên các lối đi của loài khỉ để bắt chúng.”
Tatra, bhikkhave, ye te makkaṭā abālajātikā alolajātikā, te taṁ lepaṁ disvā ārakā parivajjanti. Yo pana so hoti makkaṭo bālajātiko lolajātiko, so taṁ lepaṁ upasaṅkamitvā hatthena gaṇhāti. So tattha bajjhati. ‘Hatthaṁ mocessāmī’ti dutiyena hatthena gaṇhāti. So tattha bajjhati. ‘Ubho hatthe mocessāmī’ti pādena gaṇhāti. So tattha bajjhati. ‘Ubho hatthe mocessāmi pādañcā’ti dutiyena pādena gaṇhāti. So tattha bajjhati. ‘Ubho hatthe mocessāmi pāde cā’ti tuṇḍena gaṇhāti. So tattha bajjhati.
Evañhi so, bhikkhave, makkaṭo pañcoḍḍito thunaṁ seti anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa. Tamenaṁ, bhikkhave, luddo vijjhitvā tasmiṁyeva kaṭṭhakataṅgāre avassajjetvā yena kāmaṁ pakkamati.
Evaṁ so taṁ, bhikkhave, hoti yo agocare carati paravisaye.
The monkeys who are not foolhardy and reckless see the tar and avoid it from afar. But a foolish and reckless monkey goes up to the tar and grabs it with a hand. He gets stuck there. Thinking to free his hand, he grabs it with his other hand. He gets stuck there. Thinking to free both hands, he grabs it with a foot. He gets stuck there. Thinking to free both hands and foot, he grabs it with his other foot. He gets stuck there. Thinking to free both hands and feet, he grabs it with his snout. He gets stuck there.
And so the monkey, trapped at five points, just lies there screeching. He’d meet with tragedy and disaster, and the hunter can do what he wants with him. The hunter spears him on that very banana tree, pries him off, and goes wherever he wants.
That’s what happens when you roam out of your territory into the domain of others.
“Này các Tỳ khưu, ở đó, những con khỉ nào không thuộc loài ngu dốt, không thuộc loài tham lam, khi thấy bẫy nhựa cây ấy, chúng liền tránh xa. Nhưng con khỉ nào thuộc loài ngu dốt, thuộc loài tham lam, nó sẽ đến gần bẫy nhựa cây ấy và dùng tay để nắm lấy. Tay nó bị dính vào đó. Với ý định ‘Ta sẽ gỡ tay ra,’ nó dùng tay thứ hai để nắm lấy. Tay đó cũng bị dính vào. Với ý định ‘Ta sẽ gỡ cả hai tay ra,’ nó dùng chân để nắm lấy. Chân đó cũng bị dính vào. Với ý định ‘Ta sẽ gỡ cả hai tay và một chân ra,’ nó dùng chân thứ hai để nắm lấy. Chân đó cũng bị dính vào. Với ý định ‘Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân ra,’ nó dùng mõm để nắm lấy. Mõm đó cũng bị dính vào. Này các Tỳ khưu, như vậy, con khỉ ấy bị dính chặt ở năm chỗ, nằm rên rỉ, gặp phải bất hạnh, gặp phải tai họa, bị người thợ săn tùy ý định đoạt. Người thợ săn ấy xiên nó, nướng nó ngay trên đống than củi đó, rồi bỏ đi đến nơi nào mình muốn. Này các Tỳ khưu, sự việc là như vậy đối với người đi lại ở ngoài địa phận, trong lãnh địa của kẻ khác.”
Tasmātiha, bhikkhave, mā agocare carittha paravisaye. Agocare, bhikkhave, carataṁ paravisaye lacchati māro otāraṁ, lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo? Yadidaṁ—pañca kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā …pe… jivhāviññeyyā rasā …pe… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo.
So, mendicants, don’t roam out of your own territory into the domain of others. If you roam out of your own territory into the domain of others, Māra will find a vulnerability and get an opportunity.
And what is not a mendicant’s own territory but the domain of others? It’s the five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. This is not a mendicant’s own territory but the domain of others.
“Vì vậy, này các Tỳ khưu, chớ đi lại ở ngoài địa phận, trong lãnh địa của kẻ khác. Này các Tỳ khưu, đối với những ai đi lại ở ngoài địa phận, trong lãnh địa của kẻ khác, Ma vương sẽ có được cơ hội, Ma vương sẽ có được duyên cớ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là ngoài địa phận, là lãnh địa của kẻ khác đối với một Tỳ khưu? Đó chính là năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ; các thanh âm do tai nhận biết...; các hương khí do mũi nhận biết...; các vị nếm do lưỡi nhận biết...; các vật xúc chạm do thân nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính quyến rũ. Này các Tỳ khưu, đây là ngoài địa phận, là lãnh địa của kẻ khác đối với một Tỳ khưu.”
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. Gocare, bhikkhave, carataṁ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṁ, na lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo? Yadidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā. Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo”ti.
Sattamaṁ.
You should roam inside your own territory, the domain of your fathers. If you roam inside your own territory, the domain of your fathers, Māra won’t find a vulnerability and get an opportunity.
And what is a mendicant’s own territory, the domain of the fathers? It’s the four kinds of mindfulness meditation. What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. This is a mendicant’s own territory, the domain of the fathers.”
“Này các tỳ khưu, hãy đi vào khu vực hành trì, là lãnh địa của tổ tiên các ngươi. Này các tỳ khưu, đối với những ai đi vào khu vực hành trì, là lãnh địa của tổ tiên, ma vương sẽ không có được cơ hội, ma vương sẽ không có được đối tượng. Và này các tỳ khưu, thế nào là khu vực hành trì, là lãnh địa của tổ tiên của vị tỳ khưu? Chính là bốn niệm xứ này. Bốn niệm xứ nào? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ưu ở đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ưu ở đời. Này các tỳ khưu, đây là khu vực hành trì, là lãnh địa của tổ tiên của vị tỳ khưu.” (Kinh) thứ bảy.