- Saṁyutta Nikāya 47.23
- 3. Sīlaṭṭhitivagga
Bản dịch
SN 47.23 — Kinh Suy Giảm (Parihāna)
Parihānasutta
Vi-n 1-2. Trú tại Pātaliputta, tại khu vườn Kukkuta …
Vi-n 3 —Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ānanda, khiến cho Diệu pháp bị tổn giảm? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả Ānanda, khiến cho Diệu pháp không bị tổn giảm?
… (giống như kinh trước, chỉ thay đổi câu hỏi và câu trả lời).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.23
- 3. Ethics and Duration
Decline
3. Kinh Suy Giảm (Parihāna)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca ānando āyasmā ca bhaddo pāṭaliputte viharanti kukkuṭārāme. Atha kho āyasmā bhaddo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā bhaddo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaparihānaṁ hoti? Ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaaparihānaṁ hotī”ti?
At one time the venerables Ānanda and Bhadda were staying near Pāṭaliputta, in the Chicken Monastery. Then in the late afternoon, Venerable Bhadda came out of retreat, went to Venerable Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Ānanda:
“What’s the cause, Reverend Ānanda, what’s the reason why the true teaching declines? And what’s the cause, what’s the reason why the true teaching doesn’t decline?”
389. Một thời, trưởng lão Ānanda và trưởng lão Bhadda trú tại Pāṭaliputta, trong tu viện Kukkutārāma. Rồi trưởng lão Bhadda, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ trưởng lão Ānanda; sau khi đến, đã cùng trưởng lão Ānanda chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, trưởng lão Bhadda nói với trưởng lão Ānanda điều này: “Thưa hiền giả Ānanda, do nhân gì, do duyên gì, diệu pháp bị suy giảm? Thưa hiền giả Ānanda, do nhân gì, do duyên gì, diệu pháp không bị suy giảm?”
“Sādhu sādhu, āvuso bhadda. Bhaddako kho te, āvuso bhadda, ummaṅgo, bhaddakaṁ paṭibhānaṁ, kalyāṇī paripucchā. Evañhi tvaṁ, āvuso bhadda, pucchasi: ‘ko nu kho, āvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaparihānaṁ hoti? Ko panāvuso ānanda, hetu, ko paccayo yena saddhammaaparihānaṁ hotī’”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Catunnaṁ kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṁ abhāvitattā abahulīkatattā saddhammaparihānaṁ hoti. Catunnañca kho, āvuso, satipaṭṭhānānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā saddhammaaparihānaṁ hoti.
“Good, good, Reverend Bhadda! Your approach and eloquence are excellent, and it’s a good question. For you asked: ‘What’s the cause, what’s the reason why the true teaching declines? And what’s the cause, what’s the reason why the true teaching doesn’t decline?’”
“Yes, reverend.”
“It’s because of not developing and cultivating the four kinds of mindfulness meditation that the true teaching declines. It’s because of developing and cultivating the four kinds of mindfulness meditation that the true teaching doesn’t decline.
“Lành thay, lành thay, này hiền giả Bhadda! Này hiền giả Bhadda, trí tuệ của hiền giả thật tốt đẹp, biện tài của hiền giả thật tốt đẹp, câu hỏi của hiền giả thật thiện xảo. Này hiền giả Bhadda, có phải hiền giả đã hỏi như vầy: ‘Thưa hiền giả Ānanda, do nhân gì, do duyên gì, diệu pháp bị suy giảm? Và thưa hiền giả Ānanda, do nhân gì, do duyên gì, diệu pháp không bị suy giảm?’” “Thưa vâng, hiền giả.” “Này hiền giả, do không tu tập, không thực hành nhiều bốn niệm xứ, nên diệu pháp bị suy giảm. Và này hiền giả, do tu tập, do thực hành nhiều bốn niệm xứ, nên diệu pháp không bị suy giảm.”
Katamesaṁ catunnaṁ? Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Imesaṁ kho, āvuso, catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ abhāvitattā abahulīkatattā saddhammaparihānaṁ hoti. Imesañca kho, āvuso, catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā saddhammaaparihānaṁ hotī”ti.
Tatiyaṁ.
What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. It’s because of not developing and cultivating these four kinds of mindfulness meditation that the true teaching declines. And it’s because of developing and cultivating these four kinds of mindfulness meditation that the true teaching doesn’t decline.”
“Bốn niệm xứ nào? Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời; trong các cảm thọ...; trong tâm...; trong các pháp, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này hiền giả, do không tu tập, không thực hành nhiều bốn niệm xứ này, nên diệu pháp bị suy giảm. Và này hiền giả, do tu tập, do thực hành nhiều bốn niệm xứ này, nên diệu pháp không bị suy giảm.” (Kinh thứ ba)