- Saṁyutta Nikāya 42.11
- 1. Gāmaṇivagga
Bản dịch
SN 42.11 — Kinh Bhadraka
Bhadrakasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!
—Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: “Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ”; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: “Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai”; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 4 Thế Tôn nói như sau:
—Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Vi-n 5 —Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?
—Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
—Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não? Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?
—Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham đối với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con không có dục và tham đối với họ.
—Ông nói: “Con có lòng dục tham đối với họ. Con không có lòng dục tham đối với họ”. Này Thôn trưởng, có phải được thấy, được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp này, Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá khứ, vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: “Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!”
Vi-n 7 Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii, sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và nói: “Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii”. Cho đến khi người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn chồn hồi hộp: “Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì không?”
Vi-n 8 —Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được?
—Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như sau: Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.
Vi-n 9 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không thấy, không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsii không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham, hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsi không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác, thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?
—Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu biết như sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 42.11
- 1. Chiefs
With Bhadraka
11. Kinh Bhadraka
Ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu viharati uruvelakappaṁ nāma mallānaṁ nigamo. Atha kho bhadrako gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho bhadrako gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca desetū”ti.
“Ahañce te, gāmaṇi, atītamaddhānaṁ ārabbha dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca deseyyaṁ: ‘evaṁ ahosi atītamaddhānan’ti, tatra te siyā kaṅkhā, siyā vimati. Ahañce te, gāmaṇi, anāgatamaddhānaṁ ārabbha dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca deseyyaṁ: ‘evaṁ bhavissati anāgatamaddhānan’ti, tatrāpi te siyā kaṅkhā, siyā vimati. Api cāhaṁ, gāmaṇi, idheva nisinno ettheva te nisinnassa dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca desessāmi. Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho bhadrako gāmaṇi bhagavato paccassosi. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying in the land of the Mallas, near the Mallian town named Uruvelakappa. Then Bhadraka the village chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Please, sir, let the Blessed One teach me the origin and disappearance of suffering.”
“Chief, if I were to teach you about the origin and disappearance of suffering in connection with the past, saying ‘this is how it was in the past,’ you might have doubts or uncertainties about that. If I were to teach you about the origin and disappearance of suffering in connection with the future, saying ‘this is how it will be in the future,’ you might have doubts or uncertainties about that. Rather, chief, I will teach you about the origin and disappearance of suffering as I am sitting right here and you are sitting right there. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Bhadraka replied. The Buddha said this:
363. Một thời, đức Thế Tôn trú ở xứ Malla, tại thị trấn của dòng họ Malla tên là Uruvelakappa. Rồi, vị trưởng làng Bhadraka đã đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vị trưởng làng Bhadraka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, lành thay, xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng cho con về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ đau.’ – ‘Này trưởng làng, nếu ta thuyết giảng cho ngươi về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ đau liên quan đến quá khứ rằng: ‘Trong quá khứ đã là như vậy,’ ở đó ngươi có thể có sự hoài nghi, có thể có sự phân vân. Này trưởng làng, nếu ta thuyết giảng cho ngươi về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ đau liên quan đến tương lai rằng: ‘Trong tương lai sẽ là như vậy,’ ở đó ngươi cũng có thể có sự hoài nghi, có thể có sự phân vân. Hơn nữa, này trưởng làng, ta sẽ thuyết giảng về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ đau cho ngươi đang ngồi ngay tại đây, trong khi ta cũng đang ngồi ngay tại đây. Ngươi hãy lắng nghe điều ấy, hãy khéo tác ý; ta sẽ nói.’ – ‘Xin vâng, bạch ngài.’ Vị trưởng làng Bhadraka đã vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này: –
“Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, atthi te uruvelakappe manussā yesaṁ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Atthi me, bhante, uruvelakappe manussā yesaṁ me vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
“Atthi pana te, gāmaṇi, uruvelakappe manussā yesaṁ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Atthi me, bhante, uruvelakappe manussā yesaṁ me vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
“Ko nu kho, gāmaṇi, hetu, ko paccayo yena te ekaccānaṁ uruvelakappiyānaṁ manussānaṁ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Yesaṁ me, bhante, uruvelakappiyānaṁ manussānaṁ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, atthi me tesu chandarāgo. Yesaṁ pana, bhante, uruvelakappiyānaṁ manussānaṁ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, natthi me tesu chandarāgo”ti.
“Iminā tvaṁ, gāmaṇi, dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ nehi: ‘yaṁ kho kiñci atītamaddhānaṁ dukkhaṁ uppajjamānaṁ uppajji sabbaṁ taṁ chandamūlakaṁ chandanidānaṁ. Chando hi mūlaṁ dukkhassa. Yampi hi kiñci anāgatamaddhānaṁ dukkhaṁ uppajjamānaṁ uppajjissati, sabbaṁ taṁ chandamūlakaṁ chandanidānaṁ. Chando hi mūlaṁ dukkhassā’”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, bhagavatā: ‘yaṁ kiñci dukkhaṁ uppajjamānaṁ uppajjati, sabbaṁ taṁ chandamūlakaṁ chandanidānaṁ. Chando hi mūlaṁ dukkhassā’ti.
Atthi me, bhante, ciravāsī nāma kumāro bahi āvasathe paṭivasati. So khvāhaṁ, bhante, kālasseva vuṭṭhāya purisaṁ uyyojemi: ‘gaccha, bhaṇe, ciravāsiṁ kumāraṁ jānāhī’ti. Yāvakīvañca, bhante, so puriso nāgacchati, tassa me hoteva aññathattaṁ: ‘mā heva ciravāsissa kumārassa kiñci ābādhayitthā’”ti.
“What do you think, chief? Are there any people here in Uruvelakappa who, if they were executed, imprisoned, fined, or condemned, it would cause you sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?”
“There are, sir.”
“But are there any people here in Uruvelakappa who, if they were executed, imprisoned, fined, or condemned, it would not cause you sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?”
“There are, sir.”
“What’s the cause, chief, what’s the reason why, if this was to happen to some people it could cause you sorrow, while if it happens to others it does not?”
“The people regarding whom this would give rise to sorrow are those I have desire and passion. The people regarding whom this would not give rise to sorrow are those I don’t have desire and passion.”
“With this present phenomenon that you have seen, understood, immediately attained, and fathomed, you can apply the same method to the past and future: ‘All the suffering that arose in the past was rooted and sourced in desire. For desire is the root of suffering. All the suffering that will arise in the future will be rooted and sourced in desire. For desire is the root of suffering.’”
“It’s incredible, sir, it’s amazing! How well said this was by the Buddha! ‘All the suffering that arises is rooted and sourced in desire. For desire is the root of suffering.’
I have a boy called Ciravāsi, who resides in a house away from here. I rise early and dispatch someone, saying: ‘Go, lad, and check on my boy Ciravāsi.’ Until they get back I worry: ‘I hope nothing’s wrong with Ciravāsi!’”
“Này gāmaṇi, ông nghĩ thế nào về điều này? Ở Uruvelakappa, có những người nào mà đối với họ, do việc giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho ông không?” “Bạch ngài, ở Uruvelakappa, có những người mà đối với họ, do việc con giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho con.” “Này gāmaṇi, vậy ở Uruvelakappa, có những người nào mà đối với họ, do việc ông giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ không khởi lên cho ông không?” “Bạch ngài, ở Uruvelakappa, có những người mà đối với họ, do việc con giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ không khởi lên cho con.” “Này gāmaṇi, vậy đâu là nhân, đâu là duyên mà đối với một số người ở Uruvelakappa, do việc ông giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho ông?” “Bạch ngài, đối với những người ở Uruvelakappa mà do việc con giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên cho con, là vì con có dục và tham đối với họ. Còn bạch ngài, đối với những người ở Uruvelakappa mà do việc con giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ không khởi lên cho con, là vì con không có dục và tham đối với họ.” “Này gāmaṇi, với pháp này đã được ông thấy, biết, không có thời gian, đạt đến, thâm nhập, ông hãy suy luận về quá khứ và vị lai rằng: ‘Bất cứ khổ nào trong quá khứ đang khởi lên mà đã khởi lên, tất cả khổ ấy có dục làm gốc rễ, có dục làm nguyên nhân. Vì rằng, dục chính là gốc rễ của khổ. Và bất cứ khổ nào trong tương lai đang khởi lên mà sẽ khởi lên, tất cả khổ ấy có dục làm gốc rễ, có dục làm nguyên nhân. Vì rằng, dục chính là gốc rễ của khổ.’” “Thật vi diệu, bạch ngài! Thật hy hữu, bạch ngài! Lời này đã được Thế Tôn khéo nói biết bao: ‘Bất cứ khổ nào đang khởi lên mà khởi lên, tất cả khổ ấy có dục làm gốc rễ, có dục làm nguyên nhân. Vì rằng, dục chính là gốc rễ của khổ.’ Bạch ngài, con có một đứa con trai tên là Ciravāsī, nó đang sống ở một nơi cư trú bên ngoài. Và bạch ngài, con thức dậy từ sáng sớm và sai một người đi: ‘Này anh kia, hãy đi xem đứa trẻ Ciravāsī thế nào.’ Và bạch ngài, chừng nào người ấy chưa trở về, trong con liền có sự đổi khác rằng: ‘Mong rằng không có điều gì tai hại xảy đến cho đứa trẻ Ciravāsī.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, ciravāsissa kumārassa vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Ciravāsissa me, bhante, kumārassa vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me nuppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
“Imināpi kho etaṁ, gāmaṇi, pariyāyena veditabbaṁ: ‘yaṁ kiñci dukkhaṁ uppajjamānaṁ uppajjati, sabbaṁ taṁ chandamūlakaṁ chandanidānaṁ. Chando hi mūlaṁ dukkhassā’ti.
“What do you think, chief? If Ciravāsi was executed, imprisoned, fined, or condemned, would it cause you sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?”
“How could it not, sir?”
“This too is a way to understand: ‘All the suffering that arises is rooted and sourced in desire. For desire is the root of suffering.’
“Này gāmaṇi, ông nghĩ thế nào về điều này? Do việc giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách đối với đứa trẻ Ciravāsī, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên cho ông không?” “Bạch ngài, do việc giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách đối với đứa trẻ Ciravāsī, ngay cả mạng sống của con cũng có thể bị đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi lên cho con sao?” “Này gāmaṇi, cũng chính do phương pháp này, điều này cần được hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào đang khởi lên mà khởi lên, tất cả khổ ấy có dục làm gốc rễ, có dục làm nguyên nhân. Vì rằng, dục chính là gốc rễ của khổ.’”
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, yadā te ciravāsimātā adiṭṭhā ahosi, assutā ahosi, te ciravāsimātuyā chando vā rāgo vā pemaṁ vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Dassanaṁ vā te, gāmaṇi, āgamma savanaṁ vā evaṁ te ahosi: ‘ciravāsimātuyā chando vā rāgo vā pemaṁ vā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
What do you think, chief? Before you’d seen or heard of Ciravāsi’s mother, did you have any desire or passion or fondness for her?”
“No, sir.”
“Then was it because you saw or heard of her that you had desire or passion or fondness for her?”
“Yes, sir.”
“Này gāmaṇi, ông nghĩ thế nào về điều này? Khi ông chưa từng thấy, chưa từng nghe về mẹ của Ciravāsī, ông có dục, hoặc tham, hoặc ái đối với mẹ của Ciravāsī không?” “Bạch ngài, không phải vậy.” “Này gāmaṇi, có phải do duyên thấy hoặc do duyên nghe mà ông đã có dục, hoặc tham, hoặc ái đối với mẹ của Ciravāsī như vậy không?” “Bạch ngài, đúng vậy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, ciravāsimātuyā te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Ciravāsimātuyā me, bhante, vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me nuppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
“Imināpi kho etaṁ, gāmaṇi, pariyāyena veditabbaṁ: ‘yaṁ kiñci dukkhaṁ uppajjamānaṁ uppajjati, sabbaṁ taṁ chandamūlakaṁ chandanidānaṁ. Chando hi mūlaṁ dukkhassā’”ti.
Ekādasamaṁ.
“What do you think, chief? If Ciravāsi’s mother was executed, imprisoned, fined, or condemned, would it cause you sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress?”
“How could it not, sir?”
“This too is a way to understand: ‘All the suffering that arises is rooted and sourced in desire. For desire is the root of suffering.’”
“Này gāmaṇi, ông nghĩ thế nào về điều này? Do việc giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách đối với mẹ của Ciravāsī, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên cho ông không?” “Bạch ngài, do việc giết hại, hoặc trói buộc, hoặc tổn thất tài sản, hoặc khiển trách đối với mẹ của Ciravāsī, ngay cả mạng sống của con cũng có thể bị đổi khác, huống nữa là sầu, bi, khổ, ưu, não lại không khởi lên cho con sao!” “Này gāmaṇi, cũng chính do phương pháp này, điều này cần được hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào đang khởi lên mà khởi lên, tất cả khổ ấy có dục làm gốc rễ, có dục làm nguyên nhân. Vì rằng, dục chính là gốc rễ của khổ.’” Bài kinh thứ mười một.