- Saṁyutta Nikāya 36.5
- 1. Sagāthāvagga
Bản dịch
SN 36.5 — Kinh Cần Phải Thấy
Daṭṭhabbasutta
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Vi-n 4 Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Vi-n 1 Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.Vi-n 2 Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.5
- 1. With Verses
Should Be Seen
5. Kinh Cần Phải Thấy
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā. Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhā, bhikkhave, vedanā dukkhato daṭṭhabbā, dukkhā vedanā sallato daṭṭhabbā, adukkhamasukhā vedanā aniccato daṭṭhabbā.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhā vedanā dukkhato diṭṭhā hoti, dukkhā vedanā sallato diṭṭhā hoti, adukkhamasukhā vedanā aniccato diṭṭhā hoti—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu sammaddaso acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’ti.
“Mendicants, there are these three feelings. What three?
Pleasant, painful, and neutral feeling.
Pleasant feeling should be seen as suffering. Painful feeling should be seen as a dart. Neutral feeling should be seen as impermanent.
When a mendicant has seen these three feelings in this way, they’re called a mendicant who sees rightly, has cut off craving, cast off the fetters, and by rightly comprehending conceit has made an end of suffering.
253. Này các Tỳ khưu, có ba loại thọ này. Thế nào là ba? Thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc. Này các Tỳ khưu, thọ lạc cần phải được thấy như là khổ, thọ khổ cần phải được thấy như là mũi tên, thọ không khổ không lạc cần phải được thấy như là vô thường. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu đã thấy thọ lạc như là khổ, đã thấy thọ khổ như là mũi tên, đã thấy thọ không khổ không lạc như là vô thường – này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là ‘vị có chánh kiến, đã cắt đứt ái, đã tháo bỏ kiết sử, do chánh thắng tri ngã mạn, đã chấm dứt khổ đau’.
Yo sukhaṁ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato; Adukkhamasukhaṁ santaṁ, addakkhi naṁ aniccato.
A mendicant who sees pleasure as pain, and suffering as a dart, and that peaceful, neutral feeling as impermanent
Người nào đã thấy lạc là khổ, đã thấy khổ như mũi tên; đã thấy thọ không khổ không lạc, an tịnh, là vô thường.
Sa ve sammaddaso bhikkhu, parijānāti vedanā; So vedanā pariññāya, diṭṭhe dhamme anāsavo; Kāyassa bhedā dhammaṭṭho, saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Pañcamaṁ.
sees rightly; they completely understand feelings. Completely understanding feelings, they’re without defilements in this very life. That knowledge master is firm in principle; when their body breaks up, they can’t be reckoned.”
Vị Tỳ khưu có chánh kiến ấy, thật vậy, liễu tri các cảm thọ. Vị ấy, liễu tri các cảm thọ, ngay trong hiện tại, không còn lậu hoặc; sau khi thân hoại, vị ấy trú trong Chánh pháp, bậc thông đạt, không đi vào sự tính đếm.