- Saṁyutta Nikāya 35.65
- 7. Migajālavagga
Bản dịch
SN 35.65 — Kinh Câu Hỏi Về Ma của Samiddhi (Thứ Nhất)
Paṭhamasamiddhimārapañhāsutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2-3. Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn … và bạch Thế Tôn:
: “Māra, Māra”, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Māra, hay là danh nghĩa Māra (Màrapannatti)?
Vi-n 4 —Này Samiddhi, chỗ nào có mắt, có các sắc, có nhãn thức, có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy có Māra, hay có danh nghĩa Māra.
Vi-n 5-6.… có tai … có mũi …
Vi-n 7-8.… có lưỡi … có thân …
Vi-n 9 Chỗ nào có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp do ý nhận thức, chỗ ấy có Māra, hay có danh nghĩa Māra.
Vi-n 10-12. Và này Samiddhi, chỗ nào không có mắt, không có các sắc, không có nhãn thức, không có các pháp do mắt nhận thức, tại chỗ ấy không có Māra, hay không có danh nghĩa Māra … tai … mũi …
Vi-n 13-14. Chỗ nào không có lưỡi … không có thân …
Vi-n 15 Chỗ nào không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có các pháp do ý nhận thức, tại chỗ ấy không có Māra, hay không có danh nghĩa Māra.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.65
- 7. With Migajāla
Samiddhi’s Question About Māra
3. Kinh Câu Hỏi Về Ma của Samiddhi (Thứ Nhất)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā …pe… bhagavantaṁ etadavoca:
“‘māro, māro’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, māro vā assa mārapaññatti vā”ti?
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then Venerable Samiddhi went up to the Buddha … and said to him:
“Sir, they speak of this thing called ‘Māra’. How do we define Māra or what is known as Māra?”
65. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, Tôn giả Samiddhi đi đến chỗ đức Thế Tôn... (vân vân)... bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, người ta nói: ‘Ma, Ma.’ Bạch ngài, cho đến mức độ nào thì có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’?’
“Yattha kho, samiddhi, atthi cakkhu, atthi rūpā, atthi cakkhuviññāṇaṁ, atthi cakkhuviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Atthi sotaṁ, atthi saddā, atthi sotaviññāṇaṁ, atthi sotaviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Atthi ghānaṁ, atthi gandhā, atthi ghānaviññāṇaṁ, atthi ghānaviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Atthi jivhā, atthi rasā, atthi jivhāviññāṇaṁ, atthi jivhāviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Atthi kāyo, atthi phoṭṭhabbā, atthi kāyaviññāṇaṁ, atthi kāyaviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Atthi mano, atthi dhammā, atthi manoviññāṇaṁ, atthi manoviññāṇaviññātabbā dhammā, atthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
“Samiddhi, where there is the eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
Where there is the ear, sounds, ear consciousness, and things knowable by ear consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
Where there is the nose, smells, nose consciousness, and things knowable by nose consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
Where there is the tongue, tastes, tongue consciousness, and things knowable by tongue consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
Where there is the body, touches, body consciousness, and things knowable by body consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
Where there is the mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness, there is Māra or what is known as Māra.
– ‘Này Samiddhi, ở đâu có mắt, có các sắc pháp, có nhãn thức, có các pháp được nhận biết bởi nhãn thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’. Có tai, có các âm thanh, có nhĩ thức, có các pháp được nhận biết bởi nhĩ thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’. Có mũi, có các mùi hương, có tỷ thức, có các pháp được nhận biết bởi tỷ thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’. Có lưỡi, có các vị, có thiệt thức, có các pháp được nhận biết bởi thiệt thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’. Có thân, có các đối tượng xúc chạm, có thân thức, có các pháp được nhận biết bởi thân thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’. Có ý, có các pháp, có ý thức, có các pháp được nhận biết bởi ý thức, thì ở đó có Ma hay có sự định danh là ‘Ma’.
Yattha ca kho, samiddhi, natthi cakkhu, natthi rūpā, natthi cakkhuviññāṇaṁ, natthi cakkhuviññāṇaviññātabbā dhammā, natthi tattha māro vā mārapaññatti vā.
Natthi sotaṁ …pe… natthi ghānaṁ …pe… natthi jivhā, natthi rasā, natthi jivhāviññāṇaṁ, natthi jivhāviññāṇaviññātabbā dhammā, natthi tattha māro vā mārapaññatti vā. Natthi kāyo …pe….
Natthi mano, natthi dhammā, natthi manoviññāṇaṁ, natthi manoviññāṇaviññātabbā dhammā, natthi tattha māro vā mārapaññatti vā”ti.
Tatiyaṁ.
Where there is no eye, no sights, no eye consciousness, and no things knowable by eye consciousness, there is no Māra or what is known as Māra.
Where there is no ear … no nose … no tongue … no body …
Where there is no mind, no ideas, no mind consciousness, and no things knowable by mind consciousness, there is no Māra or what is known as Māra.”
– ‘Và này Samiddhi, ở đâu không có mắt, không có các sắc pháp, không có nhãn thức, không có các pháp được nhận biết bởi nhãn thức, thì ở đó không có Ma hay không có sự định danh là ‘Ma’. Không có tai... (vân vân)... không có mũi... (vân vân)... không có lưỡi, không có các vị, không có thiệt thức, không có các pháp được nhận biết bởi thiệt thức, thì ở đó không có Ma hay không có sự định danh là ‘Ma’. Không có thân... (vân vân)... Không có ý, không có các pháp, không có ý thức, không có các pháp được nhận biết bởi ý thức, thì ở đó không có Ma hay không có sự định danh là ‘Ma’.’ (Kinh thứ ba).