- Saṁyutta Nikāya 35.228
- 18. Samuddavagga
Bản dịch
SN 35.228 — Kinh Biển Cả Thứ Nhất
Paṭhamasamuddasutta
Vi-n 2 : “Biển, biển”, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỷ-kheo, là một khối nước lớn, là một dòng nước lớn.
Vi-n 3-7. Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai … Mũi … Lưỡi … Thân …
Vi-n 8 Ý, này các Tỷ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đã vượt khỏi biển ý, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền.
Vi-n 9 Bậc Ðạo Sư nói như sau:
Ai vượt qua biển này,
Với cá mập, La-sát.
Với sóng biển hãi hùng,
Biển rất khó vượt qua,
Bậc tối thắng trí tuệ,
Ðã thành tựu Phạm hạnh,
Ðược gọi: “Ðến bờ kia”,
Ðã đạt thế giới biên.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.228
- 18. The Ocean
The Ocean (1st)
1. Kinh Biển Cả Thứ Nhất
“‘Samuddo, samuddo’ti, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati. Neso, bhikkhave, ariyassa vinaye samuddo. Mahā eso, bhikkhave, udakarāsi mahāudakaṇṇavo. Cakkhu, bhikkhave, purisassa samuddo; tassa rūpamayo vego.
Yo taṁ rūpamayaṁ vegaṁ sahati, ayaṁ vuccati, bhikkhave, atari cakkhusamuddaṁ saūmiṁ sāvaṭṭaṁ sagāhaṁ sarakkhasaṁ; tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo …pe…
jivhā, bhikkhave, purisassa samuddo; tassa rasamayo vego. Yo taṁ rasamayaṁ vegaṁ sahati, ayaṁ vuccati, bhikkhave, atari jivhāsamuddaṁ saūmiṁ sāvaṭṭaṁ sagāhaṁ sarakkhasaṁ; tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo …pe… mano, bhikkhave, purisassa samuddo; tassa dhammamayo vego. Yo taṁ dhammamayaṁ vegaṁ sahati, ayaṁ vuccati, bhikkhave, atari manosamuddaṁ saūmiṁ sāvaṭṭaṁ sagāhaṁ sarakkhasaṁ; tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo”ti.
Idamavoca …pe… satthā:
“Mendicants, an unlearned ordinary person speaks of the ocean. But that’s not the ocean in the training of the Noble One. That’s just a large body of water, a large sea of water. For a person, the eye is an ocean, and its currents are made of sights.
Someone who can prevail over those currents is said to have crossed over the ocean of the eye, with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over, gone to the far shore, the brahmin stands on solid ground.
For a person, the ear … nose … tongue … body … mind is an ocean, and its currents are made of ideas. Someone who can prevail over those currents is said to have crossed over the ocean of the mind, with its waves and whirlpools, its saltwater crocodiles and monsters. Crossed over, gone to the far shore, the brahmin stands on solid ground.”
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
228. Này các tỳ khưu, kẻ phàm phu ít nghe nói rằng: ‘Biển cả, biển cả.’ Này các tỳ khưu, trong giới luật của bậc Thánh, đó không phải là biển cả. Này các tỳ khưu, đó chỉ là một khối nước lớn, một đại dương lớn. Này các tỳ khưu, con mắt là biển cả của con người; xung lực của nó được tạo thành từ sắc. Người nào chịu đựng được xung lực được tạo thành từ sắc ấy, này các tỳ khưu, người ấy được gọi là đã vượt qua biển cả của con mắt, với sóng, với xoáy nước, với cá sấu, với dạ xoa; đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn… (như trên)… Này các tỳ khưu, lưỡi là biển cả của con người; xung lực của nó được tạo thành từ vị. Người nào chịu đựng được xung lực được tạo thành từ vị ấy, này các tỳ khưu, người ấy được gọi là đã vượt qua biển cả của lưỡi, với sóng, với xoáy nước, với cá sấu, với dạ xoa; đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn… (như trên)… Này các tỳ khưu, ý là biển cả của con người; xung lực của nó được tạo thành từ pháp. Người nào chịu đựng được xung lực được tạo thành từ pháp ấy, này các tỳ khưu, người ấy được gọi là đã vượt qua biển cả của ý, với sóng, với xoáy nước, với cá sấu, với dạ xoa; đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn. Bậc Đạo Sư đã nói điều này… (như trên)…
“Yo imaṁ samuddaṁ sagāhaṁ sarakkhasaṁ, Saūmiṁ sāvaṭṭaṁ sabhayaṁ duttaraṁ accatari; Sa vedagū vusitabrahmacariyo, Lokantagū pāragatoti vuccatī”ti.
Paṭhamaṁ.
“A knowledge master who’s crossed <j>the ocean so hard to cross, with its saltwater crocodiles and monsters, <j>its waves, whirlpools, and dangers; they’ve completed the spiritual journey and gone to the end of the world, they’re called ‘one who has gone beyond’.”
Người nào đã vượt qua biển cả này, với cá sấu và dạ xoa, với sóng, với xoáy nước, đầy hiểm nguy và khó vượt; Vị ấy, bậc thông suốt Vệ-đà, đã sống đời phạm hạnh, đã đi đến tận cùng thế gian, được gọi là người đã đến bờ bên kia. Hết bài kinh thứ nhất.