- Saṁyutta Nikāya 35.186
- 17. Saṭṭhipeyyālavagga
Bản dịch
SN 35.186 — Ajjhattātītāniccasutta
Ajjhattātītāniccasutta
Vi-n 3-9. —Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, thuộc quá khứ. Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý là vô thường, thuộc quá khứ.
Vi-n 10 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.186
- 17. Sixty Abbreviated Texts
The Interior Was Impermanent in the Past
19. Kinh Vô Thường Nội Phần Quá Khứ
“Cakkhu, bhikkhave, aniccaṁ atītaṁ …pe… jivhā aniccā atītā …pe… mano anicco atīto.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… jivhāyapi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
“Mendicants, in the past the eye, ear, nose, tongue, body, and mind were impermanent.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
186. “Này các tỳ khưu, con mắt trong quá khứ là vô thường. ... cho đến ... cái lưỡi trong quá khứ là vô thường. ... cho đến ... ý trong quá khứ là vô thường. Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị thánh đệ tử có nghe nhiều yếm ly đối với con mắt, ... cho đến ... yếm ly đối với cái lưỡi, ... cho đến ... yếm ly đối với ý. Do yếm ly nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát có trí tuệ khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’”