- Saṁyutta Nikāya 32.3–12
- 1. Valāhakavagga
Bản dịch
SN 32.3-12 — Sītavalāhakadānūpakārasuttadasaka
Sītavalāhakadānūpakārasuttadasaka
Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ được nghe như sau: “Chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc”.
Vi-n 5 Họ suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh!”
Họ bố thí đồ ăn … Họ bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh.
Vi-n 6 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 32.3–12
- 1. Gods of the Thunderclouds
Ten Discourses On How Giving Helps to Become a Cool Thundercloud God
3-12. Mười kinh về sự hỗ trợ của bố thí liên quan đến Thần Mây Lạnh.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sītavalāhakānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena sucaritaṁ carati, vācāya sucaritaṁ carati, manasā sucaritaṁ carati. Tassa sutaṁ hoti: ‘sītavalāhakā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sītavalāhakānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So annaṁ deti …pe… padīpeyyaṁ deti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sītavalāhakānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sītavalāhakānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Dvādasamaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods of cool thunderclouds?”
“Mendicant, it’s when someone does good things by way of body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The gods of cool thunderclouds are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the cool thunderclouds!’ They give food … a lamp. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of cool thunderclouds. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods of cool thunderclouds.”
552-561. Nhân duyên ở Sāvatthī. Vị tỳ khưu ấy ngồi xuống một bên, bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên Sītavalāhaka (Hàn Vân Thiên)?” “Này tỳ khưu, ở đây, có người thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời nói, thực hành thiện hạnh về ý. Vị ấy được nghe rằng: ‘Chư thiên Sītavalāhaka sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.’ Vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn với chư thiên Sītavalāhaka.’ Vị ấy bố thí vật thực... cho đến... bố thí đèn đuốc. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên Sītavalāhaka. Này tỳ khưu, đây là nhân, đây là duyên, do đó ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn với chư thiên Sītavalāhaka.” Kinh thứ mười hai.