- Saṁyutta Nikāya 30.3
- 1. Supaṇṇavagga
Bản dịch
SN 30.3 — Kinh Làm Hai Loại Hành Vi
Dvayakārīsutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng được nghe như sau: “Loại Kim xí điểu từ trứng sanh, có thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc”.
Vi-n 5 Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta có thể được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh!” Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Vi-n 6 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Kim xí điểu từ trứng sanh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 30.3
- 1. Phoenixes
Both Kinds of Deeds
3. Kinh Làm Hai Loại Hành Vi
Sāvatthinidānaṁ.
Aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī. Tassa sutaṁ hoti: ‘aṇḍajā supaṇṇā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ supaṇṇānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Tatiyaṁ.
At Sāvatthī.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born phoenixes?”
“Mendicant, it’s when someone does both kinds of deeds by body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The egg-born phoenixes are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the egg-born phoenixes!’ When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the egg-born phoenixes. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born phoenixes.”
394. Nhân duyên ở Sāvatthi. Một vị tỳ-khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-khưu ấy bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các loài kim sí điểu noãn sanh?” “Này tỳ-khưu, ở đây có người thực hành hai loại hành vi qua thân, thực hành hai loại hành vi qua lời nói, thực hành hai loại hành vi qua ý. Vị ấy nghe rằng: ‘Các loài kim sí điểu noãn sanh được trường thọ, có sắc đẹp, nhiều an lạc.’ Vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với các loài kim sí điểu noãn sanh.’ Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các loài kim sí điểu noãn sanh. Này tỳ-khưu, đây là nhân, đây là duyên, do đó ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các loài kim sí điểu noãn sanh.” Kinh thứ ba.