- Saṁyutta Nikāya 29.7
- 1. Nāgavagga
Sutasutta
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
Bản dịch
Sutasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, một loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói như sau: “Loại Nāga từ trứng sanh được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc”.
Vi-n 5 Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta có thể sanh cọng trú với loại Nāga từ trứng sanh!”
Vi-n 6 Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với loại Nāga từ trứng sanh.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born dragons?”
348. Nhân ở Sāvatthī. Sau khi ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: 'Bạch ngài, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây có người sau khi thân hoại mạng chung lại sanh làm bạn đồng hành của các loài rồng noãn sanh?'
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī hoti, manasā dvayakārī hoti. Tassa sutaṁ hoti: ‘aṇḍajā nāgā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicant, it’s when someone does both kinds of deeds by body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The egg-born dragons are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the egg-born dragons!’ When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the egg-born dragons. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born dragons.”
'Này tỳ khưu, ở đây, có người hành động hai loại (thiện và ác) bằng thân, hành động hai loại bằng lời nói, hành động hai loại bằng ý. Vị ấy đã được nghe rằng: 'Các loài rồng noãn sanh được sống lâu, có dung sắc, và nhiều an lạc.' Vị ấy có suy nghĩ như vầy: 'Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành của các loài rồng noãn sanh!' Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sanh làm bạn đồng hành của các loài rồng noãn sanh. Này tỳ khưu, đây là nhân, đây là duyên mà ở đây có người sau khi thân hoại mạng chung lại sanh làm bạn đồng hành của các loài rồng noãn sanh.' Kinh thứ bảy.