- Saṁyutta Nikāya 28.9
- 1. Sāriputtavagga
Bản dịch
SN 28.9 — Kinh Diệt Thọ Tưởng Định
Nirodhasamāpattisutta
Vi-n 1-6. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
… Tôn giả Ānanda thấy … với sự an trú nào?
Vi-n 7-8. —Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Nhưng này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay ” Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
—Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy Tôn giả Sāriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng định”, hay “Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 28.9
- 1. With Sāriputta
The Attainment of Cessation
9. Kinh Diệt Thọ Tưởng Định
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā sāriputto …pe….
“Idhāhaṁ, āvuso, sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharāmi. Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti: “‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ saññāvedayitanirodhā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Navamaṁ.
At Sāvatthī.
Venerable Ānanda saw Venerable Sāriputta …
“Reverend, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, I entered and remained in the cessation of perception and feeling. But it didn’t occur to me: ‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’.”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit. That’s why it didn’t occur to you: ‘I am entering the cessation of perception and feeling’ or ‘I have entered the cessation of perception and feeling’ or ‘I am emerging from the cessation of perception and feeling’.”
340. Nhân duyên ở Sāvatthi. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta... Này chư hiền, ở đây, sau khi vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, tôi đã chứng và trú vào diệt thọ tưởng định. Này chư hiền, đối với tôi, không có khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nhập diệt thọ tưởng định’, hay ‘Tôi đã nhập diệt thọ tưởng định’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi diệt thọ tưởng định’.” “Bởi vì Tôn giả Sāriputta từ lâu đã nhổ sạch các tùy miên về ngã mạn, ngã sở mạn. Do đó, Tôn giả Sāriputta không có khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Tôi đang nhập diệt thọ tưởng định’, hay ‘Tôi đã nhập diệt thọ tưởng định’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi diệt thọ tưởng định’.” Kinh thứ chín.