- Saṁyutta Nikāya 27.10
- 1. Kilesavagga
Bản dịch
SN 27.10 — Kinh Uẩn
Khandhasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, dục tham đối với sắc uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thọ uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tưởng uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với hành uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thức uẩn là tùy phiền não của tâm.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với năm xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 27.10
- 1. Corruptions
The Aggregates
10. Kinh Uẩn
Sāvatthinidānaṁ.
“Yo, bhikkhave, rūpasmiṁ chandarāgo, cittasseso upakkileso …pe… yo viññāṇasmiṁ chandarāgo, cittasseso upakkileso. Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno imesu pañcasu ṭhānesu cetaso upakkileso pahīno hoti, nekkhammaninnañcassa cittaṁ hoti. Nekkhammaparibhāvitaṁ cittaṁ kammaniyaṁ khāyati, abhiññā sacchikaraṇīyesu dhammesū”ti.
Dasamaṁ.
Kilesavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
At Sāvatthī.
“Mendicants, desire and greed for form, feeling, perception, choices, or consciousness is a corruption of the mind. When a mendicant has given up mental corruption in these five cases, their mind inclines to renunciation. A mind imbued with renunciation is said to be fit for work regarding anything that can be realized by insight.”
331. Nhân duyên ở Sāvatthi. “Này các Tỳ khưu, dục tham nào ở sắc, đó là sự ô nhiễm của tâm... (như trên)... dục tham nào ở thức, đó là sự ô nhiễm của tâm. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu đã đoạn trừ được sự ô nhiễm của tâm ở năm nơi này, khi ấy tâm của vị ấy hướng về sự xuất ly. Tâm đã được tu tập với sự xuất ly được xem là dễ sử dụng đối với các pháp cần được chứng ngộ bằng thắng trí.” Kinh thứ mười.
Cakkhu rūpañca viññāṇaṁ, phasso ca vedanāya ca; Saññā ca cetanā taṇhā, dhātu khandhena te dasāti.
Mắt, sắc và thức, xúc và với thọ; Tưởng và tư, ái, giới, cùng với uẩn, là mười kinh ấy.
Kilesasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses on corruptions are complete.
Tương Ưng Phiền Não đã xong.