- Saṁyutta Nikāya 24.96
- 4. Catutthagamanavagga
Bản dịch
SN 24.96 — Adukkhamasukhīsutta
Adukkhamasukhīsutta
(Như kinh VIII, Phẩm Trùng Thuyết 1)
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 24.96
- 4. The Fourth Round
The Self is Neither Happy Nor Suffering
26. Kinh Bất Khổ Bất Lạc
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe….
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘The self is neither happy nor suffering, and is healthy after death’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
301. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, khi có cái gì, do duyên vào cái gì, do chấp thủ cái gì, tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là bất khổ bất lạc, sau khi chết thì không bệnh tật’?” – “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là gốc rễ ... cho đến ...”
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti. Vedanāya sati … saññāya sati … saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘adukkhamasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and healthy after death.’ When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises: ‘The self is neither happy nor suffering, and is healthy after death.’
“Này các Tỳ khưu, khi có sắc, do duyên vào sắc, do chấp thủ sắc, tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là bất khổ bất lạc, sau khi chết thì không bệnh tật.’ Khi có thọ ... khi có tưởng ... khi có các hành ... khi có thức, do duyên vào thức, do chấp thủ thức, tà kiến như vầy khởi lên: ‘Tự ngã là bất khổ bất lạc, sau khi chết thì không bệnh tật.’”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.” – “Thọ ... tưởng ... các hành ... thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không phải vậy.”
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
“So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
“Này các Tỳ khưu, do đó, bất cứ sắc nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc cần phải được thấy với chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào ... bất cứ tưởng nào ... bất cứ các hành nào ... bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức cần phải được thấy với chánh trí tuệ như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Catutthapeyyālo.
Tassuddānaṁ
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các Tỳ khưu, thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí tuệ khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn gì phải làm nữa cho trạng thái này.’” Kinh thứ hai mươi sáu.
Purimagamane aṭṭhārasa veyyākaraṇā, Dutiyagamane chabbīsaṁ vitthāretabbāni;
Trong phần truyền thừa thứ nhất có mười tám bài giảng; trong phần truyền thừa thứ hai có hai mươi sáu bài giảng cần được mở rộng.
Trong phần truyền thừa thứ ba có hai mươi sáu bài giảng cần được mở rộng; trong phần truyền thừa thứ tư có hai mươi sáu bài giảng cần được mở rộng.
Diṭṭhisaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses on views are complete.
Tương Ưng Kiến đã hoàn tất.