- Saṁyutta Nikāya 22.89
- 9. Theravagga
Bản dịch
SN 22.89 — Kinh Khemaka
Khemakasutta
Vi-n 1 Một thời, nhiều Tỷ-kheo Trưởng lão sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Khemaka trú tại vườn Badarica, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.
Vi-n 3 Rồi các Tỷ-kheo Trưởng lão, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy và gọi Tôn giả Dāsaka:
—Hãy đến đây, này Hiền giả Dāsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: “Này Hiền giả Khemaka, các Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: ‘Này Hiền giả, Hiền giả có kham nhẫn được không? Hiền giả có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?’”
Vi-n 4 —Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dāsaka vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến, nói với Tôn giả Khemaka:
—Các Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: “Hiền giả có kham nhẫn được không? Này Hiền giả Khemaka … không phải tăng trưởng?”
Vi-n 5 —Tôi không có thể kham nhẫn, thưa Hiền giả … tôi không có thể chịu đựng … có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Dāsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo Trưởng lão:
—Thưa chư Hiền, Tỷ-kheo Khemaka nói như sau: “Tôi không có thể kham nhẫn, này Hiền giả … có những dấu hiệu tăng trưởng, không phải thuyên giảm!”
Vi-n 7 —Hãy đến đây, Hiền giả Dāsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Này Hiền giả Khemaka, các bậc Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: ‘Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?’”
Vi-n 8 —Thưa vâng, chư Hiền.
Tôn giả Dāsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka, sau khi đến …
—Các bậc Trưởng lão, này Hiền giả, nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, Tôn giả Khemaka quán có cái gì là tự ngã hay ngã sở không?”
Vi-n 9 —Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Dāsaka đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:
—Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả!”
Vi-n 11 —Hãy đến đây, Hiền giả Dāsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Khemaka như sau: “Các vị Trưởng lão, này Hiền giả Khemaka, nói với Hiền giả như sau: ‘Hiền giả Khemaka, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, nếu Tôn giả Khemaka không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả, thời Tôn giả Khemaka là vị A-la-hán, các lậu hoặc đã được đoạn tận”.”
Vi-n 12 —Thưa vâng, chư Hiền giả.
Tôn giả Dāsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka …
—Này Hiền giả Khemaka, các bậc Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Nếu Tôn giả Khemaka, trong năm thủ uẩn này, không quán cái nào là tự ngã hay ngã sở, thời Tôn giả Khemaka là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc”.
Vi-n 13 .. —Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, này Hiền giả, tôi không quán cái gì là tự ngã hay ngã sở cả. Nhưng tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn này, dầu cho tôi có chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Dāsaka đi đến Tỷ-kheo Trưởng lão … nói với các Tỷ-kheo Trưởng lão:
—Tỷ-kheo Khemaka, thưa chư Hiền, đã nói như sau: “Thưa Hiền giả, Thế Tôn có nói đến năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn. Trong năm thủ uẩn này, thưa Hiền giả, tôi không quán cái gì là ngã hay là ngã sở. Tuy vậy, tôi không phải là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Và thưa Hiền giả, trong năm thủ uẩn, dầu cho tôi chứng được: “Tôi là”, tuy vậy tôi cũng không quán: “Cái này là tôi”.
Vi-n 15 —Hãy đến đây, Hiền giả Dāsaka! Hãy đi đến Tỷ-kheo Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỷ-kheo Khemaka: Thưa Hiền giả Khemaka, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Hiền giả như sau: “Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói “Tôi là, là cái gì?” Hiền giả nói: “Tôi là sắc?” Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc”?.; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”. Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, các Hiền giả nói: “Tôi là, là cái gì?” ”
Vi-n 16 —Thưa vâng.
Tôn giả Dāsaka vâng đáp các Tỷ-kheo Trưởng lão, đi đến Tôn giả Khemaka …
Vi-n 17 —Thôi vừa rồi, Hiền giả Dāsaka chạy qua, chạy lại như thế này để làm gì? Hãy đem gậy lại đây! Ta sẽ đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão!
Vi-n 18 Rồi Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến các Tỷ-kheo Trưởng lão; sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo Trưởng lão những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 19 Các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka đang ngồi một bên:
—Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, là cái gì? Hiền giả nói: “Tôi là sắc?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác sắc” … “là thọ … là tưởng … là các hành” …; Hiền giả nói: “Tôi là thức?”; Hiền giả nói: “Tôi là khác thức?”; Này Hiền giả Khemaka, cái mà Hiền giả nói: “Tôi là”, cái mà Hiền giả nói “Tôi là”, là cái gì?
Vi-n 20 —Thưa chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”. Tôi không nói: “Tôi là khác sắc” … “là thọ … là tưởng … là các hành” … Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi cũng không nói: “Tôi là khác thức”. Dầu rằng, này các Hiền giả, Tôi có chứng được (tư tưởng): “Tôi là”, nhưng tôi không có quán: “Cái này là tôi”.
Vi-n 21 Ví như, này chư Hiền, hương thơm của hoa sen xanh, hay hoa sen hồng, hay hoa trắng, nếu có người nói: “Hương thuộc về lá hay thuộc về sắc, hay thuộc về nhụy hoa”, nói như vậy có nói đúng không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Vậy chư Hiền, trả lời như thế nào là trả lời một cách đúng đắn?
Chư Hiền, hương là của hoa. Trả lời như vậy là trả lời một cách đúng đắn.
Vi-n 22 Cũng vậy, này chư Hiền, tôi không nói: “Tôi là sắc”; tôi không nói: “Tôi là khác sắc” … “Tôi là thọ” … “Tôi là tưởng” … “Tôi là các hành” … Tôi không nói: “Tôi là thức”. Tôi không nói: “Tôi là khác thức”. Nhưng này chư Hiền, dầu rằng đối với năm thủ uẩn của tôi được có này, tôi không có quán: “Cái này là tôi”.
Vi-n 23 Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn nghĩ: “Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị”. Dư tàn kiêu mạn ‘Tôi là”, dư tàn dục ‘Tôi là ‘, dư tàn tùy miên ‘Tôi là ‘ chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”.
Vi-n 24 Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn “Tôi là”, các dư tàn ngã dục “Tôi là”, các dư tàn ngã tùy miên “Tôi là”, mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.
Vi-n 25 Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy, cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã hay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ.
Vi-n 26-27. Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn “Tôi là”, dư tàn ngã dục “Tôi là”, dư tàn ngã tùy miên: “Tôi là” chưa được đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … đây là tưởng … đây là các hành … đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”. Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn “Tôi là”, ngã dục “tôi là”, ngã tùy miên “Tôi là” chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.
Vi-n 28 Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo Trưởng lão nói với Tôn giả Khemaka:
—Không phải chúng tôi vì muốn phiền nhiễu Tôn giả Khemaka mà chúng tôi hỏi. Nhưng vì chúng tôi nghĩ rằng: ” Tôn giả Khemaka có thể giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn”.
Vi-n 29 Và rồi Tôn giả Khemaka đã giải đáp, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai triển, phân tích, hiển lộ một cách rộng rãi giáo lý của Thế Tôn.
Vi-n 30 Tôn giả Khemaka thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo Trưởng lão hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Khemaka giảng.
Vi-n 31 Trong khi lời dạy này được nói lên, khoảng sáu mươi Tỷ-kheo được tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, kể cả Tôn giả Khemaka.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.89
- 9. Senior Mendicants
With Khemaka
7. Kinh Khemaka
Ekaṁ samayaṁ sambahulā therā bhikkhū kosambiyaṁ viharanti ghositārāme. Tena kho pana samayena āyasmā khemako badarikārāme viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho therā bhikkhū sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhitā āyasmantaṁ dāsakaṁ āmantesuṁ: “ehi tvaṁ, āvuso dāsaka, yena khemako bhikkhu tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā khemakaṁ bhikkhuṁ evaṁ vadehi: ‘therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu—kacci te, āvuso, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo’”ti?
“Evamāvuso”ti kho āyasmā dāsako therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yenāyasmā khemako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ khemakaṁ etadavoca:
“therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu: ‘kacci te, āvuso, khamanīyaṁ …pe… no abhikkamo’”ti?
“Na me, āvuso, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ …pe… abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
At one time several senior mendicants were staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Now at that time Venerable Khemaka was staying in the Jujube Tree Monastery, and he was sick, suffering, gravely ill.
In the late afternoon those senior mendicants came out of retreat and addressed Venerable Dāsaka, “Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors hope you’re keeping well; they hope you’re all right. They hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.’”
“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He went to Khemaka and said to him:
“Reverend Khemaka, the seniors hope you’re keeping well; they hope you’re all right. They hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
“Reverend, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading.”
89. Một thời, nhiều vị tỳ khưu trưởng lão đang trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, tôn giả Khemaka đang trú ở tu viện Badarikā, bị bệnh, đau đớn, lâm trọng bệnh. Rồi các vị tỳ khưu trưởng lão, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã gọi tôn giả Dāsaka: ‘Này hiền giả Dāsaka, hiền giả hãy đi đến chỗ tỳ khưu Khemaka; sau khi đến, hãy nói với tỳ khưu Khemaka như vầy: “Thưa hiền giả Khemaka, các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: ‘Thưa hiền giả, hiền giả có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Các cảm thọ đau đớn có thuyên giảm chứ không tăng lên không? Sự thuyên giảm của chúng có được nhận thấy, chứ không phải sự tăng lên không?’”’ ‘Thưa vâng, chư hiền giả.’ Tôn giả Dāsaka vâng lời các vị tỳ khưu trưởng lão rồi đi đến chỗ tôn giả Khemaka; sau khi đến, đã nói với tôn giả Khemaka điều này: ‘Thưa hiền giả Khemaka, các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: “Thưa hiền giả, hiền giả có kham nhẫn được không, ... cho đến ... chứ không phải sự tăng lên không?”’ ‘Thưa hiền giả, tôi không kham nhẫn được, không chịu đựng được, ... cho đến ... sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm.’”
Atha kho āyasmā dāsako yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca: “khemako, āvuso, bhikkhu evamāha: ‘na me, āvuso, khamanīyaṁ …pe… abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo’”ti.
“Ehi tvaṁ, āvuso dāsaka, yena khemako bhikkhu tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā khemakaṁ bhikkhuṁ evaṁ vadehi: ‘therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu—pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Imesu āyasmā khemako pañcasu upādānakkhandhesu kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassatī’”ti?
Then Dāsaka went to those senior mendicants and told them what had happened. They said,
“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors say that these five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. Do you regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self?’”
Rồi tôn giả Dāsaka đi đến chỗ các vị tỳ khưu trưởng lão; sau khi đến, đã nói với các vị tỳ khưu trưởng lão điều này: ‘Thưa chư hiền giả, tỳ khưu Khemaka nói như vầy: “Thưa hiền giả, tôi không kham nhẫn được, ... cho đến ... sự tăng lên của chúng được nhận thấy, chứ không phải sự thuyên giảm.”’ ‘Này hiền giả Dāsaka, hiền giả hãy đi đến chỗ tỳ khưu Khemaka; sau khi đến, hãy nói với tỳ khưu Khemaka như vầy: “Thưa hiền giả Khemaka, các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn. Tôn giả Khemaka có xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã không?’”’
“Evamāvuso”ti kho āyasmā dāsako therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yenāyasmā khemako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu: “pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Imesu āyasmā khemako pañcasu upādānakkhandhesu kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassatī”ti?
“Pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Imesu khvāhaṁ, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu na kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassāmī”ti.
“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:
“These five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. I do not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self.”
‘Thưa vâng, chư hiền giả.’ Tôn giả Dāsaka vâng lời các vị tỳ khưu trưởng lão rồi đi đến chỗ tôn giả Khemaka; sau khi đến, ... cho đến ... các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn. Tôn giả Khemaka có xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã không?’ ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn. Thưa hiền giả, tôi không xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã cả.’”
Atha kho āyasmā dāsako yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca: “khemako, āvuso, bhikkhu evamāha: ‘pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Imesu khvāhaṁ, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu na kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassāmī’”ti.
“Ehi tvaṁ, āvuso dāsaka, yena khemako bhikkhu tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā khemakaṁ bhikkhuṁ evaṁ vadehi: ‘therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu—pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. No ce kirāyasmā khemako imesu pañcasu upādānakkhandhesu kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassati. Tenahāyasmā khemako arahaṁ khīṇāsavo’”ti.
Then Dāsaka went to those senior mendicants and told them what had happened. They said:
“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors say that these five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. If, as it seems, Venerable Khemaka does not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self, then he is a perfected one, with defilements ended.’”
Rồi tôn giả Dāsaka đi đến chỗ các vị tỳ khưu trưởng lão; sau khi đến, đã nói với các vị tỳ khưu trưởng lão điều này: ‘Thưa chư hiền giả, tỳ khưu Khemaka nói như vầy: “Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn. Thưa hiền giả, tôi không xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã cả.”’ ‘Này hiền giả Dāsaka, hiền giả hãy đi đến chỗ tỳ khưu Khemaka; sau khi đến, hãy nói với tỳ khưu Khemaka như vầy: “Thưa hiền giả Khemaka, các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn. Nếu quả thật tôn giả Khemaka không xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã, vậy thì tôn giả Khemaka là một vị A-la-hán, một vị lậu tận.’”’
“Evamāvuso”ti kho āyasmā dāsako therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yenāyasmā khemako …pe… therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu: “pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho; no ce kirāyasmā khemako imesu pañcasu upādānakkhandhesu kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassati, tenahāyasmā khemako arahaṁ khīṇāsavo”ti.
“Pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Imesu khvāhaṁ, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu na kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassāmi, na camhi arahaṁ khīṇāsavo; api ca me, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu ‘asmī’ti adhigataṁ, ‘ayamahamasmī’ti na ca samanupassāmī”ti.
“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:
“These five grasping aggregates have been taught by the Buddha, that is: the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. I do not regard anything among these five grasping aggregates as self or as belonging to self, yet I am not a perfected one, with defilements ended. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.”
‘Thưa vâng, chư hiền giả.’ Tôn giả Dāsaka vâng lời các vị tỳ khưu trưởng lão rồi đi đến chỗ tôn giả Khemaka ... cho đến ... các vị trưởng lão nói với hiền giả như sau: ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn; nếu quả thật tôn giả Khemaka không xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã, vậy thì tôn giả Khemaka là một vị A-la-hán, một vị lậu tận.’ ‘Thưa hiền giả, năm thủ uẩn này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, đó là: sắc thủ uẩn, ... cho đến ... thức thủ uẩn. Thưa hiền giả, tôi không xem xét bất cứ điều gì trong năm thủ uẩn này là tự ngã hay thuộc về tự ngã, nhưng tôi không phải là một vị A-la-hán, một vị lậu tận. Tuy nhiên, thưa hiền giả, đối với năm thủ uẩn, tôi vẫn còn có ‘tôi là’, nhưng tôi không xem xét rằng ‘đây là tôi’.’”
Atha kho āyasmā dāsako yena therā bhikkhū …pe… there bhikkhū etadavoca: “khemako, āvuso, bhikkhu evamāha—pañcime, āvuso, upādānakkhandhā vuttā bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Imesu khvāhaṁ, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu na kiñci attaṁ vā attaniyaṁ vā samanupassāmi, na camhi arahaṁ khīṇāsavo; api ca me, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu ‘asmī’ti adhigataṁ, ‘ayamahamasmī’ti na ca samanupassāmī”ti.
Then Dāsaka went to those senior mendicants and told them what had happened. They said:
Bấy giờ, Tôn giả Dāsaka đi đến chỗ các vị Trưởng lão Tỳ khưu... thưa với các vị Trưởng lão Tỳ khưu rằng: ‘Thưa chư Hiền, Tỳ khưu Khemaka đã nói như sau: ‘Thưa chư Hiền, năm thủ uẩn này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng, tức là: sắc thủ uẩn... cho đến thức thủ uẩn. Thưa chư Hiền, đối với năm thủ uẩn này, tôi không quán thấy bất cứ điều gì là tự ngã hay thuộc về tự ngã, và tôi cũng không phải là một vị A-la-hán đã tận trừ các lậu hoặc; tuy nhiên, thưa chư Hiền, đối với năm thủ uẩn, (sự nhận thức) ‘tôi là’ đã có nơi tôi, nhưng tôi không quán thấy rằng ‘đây là tôi’.’’
“Ehi tvaṁ, āvuso dāsaka, yena khemako bhikkhu tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā khemakaṁ bhikkhuṁ evaṁ vadehi: ‘therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu—yametaṁ, āvuso khemaka, asmīti vadesi, kimetaṁ asmīti vadesi? Rūpaṁ asmīti vadesi, aññatra rūpā asmīti vadesi, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ asmīti vadesi, aññatra viññāṇā asmīti vadesi. Yametaṁ, āvuso khemaka, asmīti vadesi. Kimetaṁ asmīti vadesī’”ti?
“Please, Reverend Dāsaka, go to the mendicant Khemaka and say to him: ‘Reverend Khemaka, the seniors ask, when you say “I am”, what is it that you’re talking about? Is it form or apart from form? Is it feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness? When you say “I am”, what is it that you’re talking about?”
‘Này Hiền giả Dāsaka, Hiền giả hãy lại đây, hãy đi đến chỗ Tỳ khưu Khemaka; sau khi đến, hãy nói với Tỳ khưu Khemaka như sau: ‘Thưa Hiền giả Khemaka, các vị Trưởng lão hỏi Hiền giả như thế này: ‘Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì? Hiền giả nói ‘sắc là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với sắc’? ... thọ... tưởng... các hành... Hiền giả nói ‘thức là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với thức’? Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì?’’’
“Evamāvuso”ti kho āyasmā dāsako therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yenāyasmā khemako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ khemakaṁ etadavoca—therā taṁ, āvuso khemaka, evamāhaṁsu: “yametaṁ, āvuso khemaka, ‘asmī’ti vadesi, kimetaṁ ‘asmī’ti vadesi? Rūpaṁ ‘asmī’ti vadesi aññatra rūpā ‘asmī’ti vadesi? Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ ‘asmī’ti vadesi aññatra viññāṇā ‘asmī’ti vadesi? Yametaṁ, āvuso khemaka, ‘asmī’ti vadesi, kimetaṁ ‘asmī’ti vadesī”ti?
“Alaṁ, āvuso dāsaka, kiṁ imāya sandhāvanikāya. Āharāvuso, daṇḍaṁ; ahameva yena therā bhikkhū tenupasaṅkamissāmī”ti.
“Yes, reverends,” replied Dāsaka. He relayed the message to Khemaka, who replied:
“Enough, Reverend Dāsaka! What’s the point in running back and forth? Bring my staff, I’ll go to see the senior mendicants myself.”
‘Thưa vâng, chư Hiền.’ Tôn giả Dāsaka vâng lời các vị Trưởng lão Tỳ khưu, rồi đi đến chỗ Tôn giả Khemaka; sau khi đến, thưa với Tôn giả Khemaka rằng: ‘Thưa Hiền giả Khemaka, các vị Trưởng lão hỏi Hiền giả như thế này: ‘Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì? Hiền giả nói ‘sắc là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với sắc’? ... thọ... tưởng... các hành... Hiền giả nói ‘thức là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với thức’? Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì?’’ ‘Thôi đủ rồi, Hiền giả Dāsaka, việc đi tới đi lui này có ích gì! Này Hiền giả, hãy mang gậy lại đây; chính tôi sẽ đi đến chỗ các vị Trưởng lão Tỳ khưu.’
Atha kho āyasmā khemako daṇḍamolubbha yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā therehi bhikkhūhi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ khemakaṁ therā bhikkhū etadavocuṁ:
“yametaṁ, āvuso khemaka, ‘asmī’ti vadesi, kimetaṁ ‘asmī’ti vadesi? Rūpaṁ ‘asmī’ti vadesi, aññatra rūpā ‘asmī’ti vadesi? Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ ‘asmī’ti vadesi, aññatra viññāṇā ‘asmī’ti vadesi? Yametaṁ, āvuso khemaka, ‘asmī’ti vadesi, kimetaṁ ‘asmī’ti vadesī”ti?
“Na khvāhaṁ, āvuso, rūpaṁ ‘asmī’ti vadāmi; napi aññatra rūpā ‘asmī’ti vadāmi. Na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ ‘asmī’ti vadāmi; napi aññatra viññāṇā ‘asmī’ti vadāmi. Api ca me, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu ‘asmī’ti adhigataṁ ‘ayamahamasmī’ti na ca samanupassāmi.
Then Venerable Khemaka, leaning on a staff, went to those senior mendicants and exchanged greetings with them. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. They said to him:
“Reverend Khemaka, when you say ‘I am’, what is it that you’re talking about? Is it form or apart from form? Is it feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness? When you say ‘I am’, what is it that you’re talking about?”
“Reverends, I don’t say ‘I am’ with reference to form, or apart from form. I don’t say ‘I am’ with reference to feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.
Bấy giờ, Tôn giả Khemaka chống gậy đi đến chỗ các vị Trưởng lão Tỳ khưu; sau khi đến, cùng các vị Trưởng lão Tỳ khưu nói lên những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời nói vui vẻ, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Khemaka đã ngồi xuống một bên, các vị Trưởng lão Tỳ khưu hỏi ngài rằng: ‘Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì? Hiền giả nói ‘sắc là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với sắc’? ... thọ... tưởng... các hành... Hiền giả nói ‘thức là tôi’ hay nói ‘tôi là khác với thức’? Thưa Hiền giả Khemaka, về lời nói ‘tôi là’ mà Hiền giả đã nói, Hiền giả nói ‘tôi là’ này là có ý gì?’ ‘Thưa chư Hiền, tôi không nói ‘sắc là tôi’, tôi cũng không nói ‘tôi là khác với sắc’. Tôi không nói ‘thọ...’, không nói ‘tưởng...’, không nói ‘các hành...’, không nói ‘thức là tôi’, tôi cũng không nói ‘tôi là khác với thức’. Tuy nhiên, thưa chư Hiền, đối với năm thủ uẩn, (sự nhận thức) ‘tôi là’ đã có nơi tôi, nhưng tôi không quán thấy rằng ‘đây là tôi’.
Seyyathāpi, āvuso, uppalassa vā padumassa vā puṇḍarīkassa vā gandho. Yo nu kho evaṁ vadeyya: ‘pattassa gandho’ti vā ‘vaṇṇassa gandho’ti vā ‘kiñjakkhassa gandho’ti vā sammā nu kho so vadamāno vadeyyā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Yathā kathaṁ, panāvuso, sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“‘Pupphassa gandho’ti kho, āvuso, sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evameva khvāhaṁ, āvuso, na rūpaṁ ‘asmī’ti vadāmi, napi aññatra rūpā ‘asmī’ti vadāmi. Na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ ‘asmī’ti vadāmi, napi aññatra viññāṇā ‘asmī’ti vadāmi. Api ca me, āvuso, pañcasu upādānakkhandhesu ‘asmī’ti adhigataṁ ‘ayamahamasmī’ti na ca samanupassāmi.
It’s like the scent of a blue water lily, or a pink or white lotus. Would it be right to say that the scent belongs to the petals or the stalk or the pistil?”
“No, reverend.”
“Then, reverends, how should it be said?”
“It would be right to say that the scent belongs to the flower.”
“In the same way, reverends, I don’t say ‘I am’ with reference to form, or apart from form. I don’t say ‘I am’ with reference to feeling … perception … choices … consciousness, or apart from consciousness. For when it comes to the five grasping aggregates I’m not rid of the conceit ‘I am’. But I don’t regard anything as ‘I am this’.
‘Thưa chư Hiền, ví như hương của hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng. Nếu có người nói rằng: ‘đó là hương của cánh hoa’, hoặc ‘hương của màu sắc’, hoặc ‘hương của nhụy hoa’, thì người ấy nói như vậy có đúng không?’ ‘Thưa Hiền giả, không đúng.’ ‘Vậy thưa chư Hiền, phải trả lời như thế nào mới là trả lời đúng?’ ‘Thưa Hiền giả, trả lời rằng: ‘đó là hương của đóa hoa’ thì mới là trả lời đúng.’ ‘Cũng vậy, thưa chư Hiền, tôi không nói ‘sắc là tôi’, tôi cũng không nói ‘tôi là khác với sắc’. Tôi không nói ‘thọ...’, không nói ‘tưởng...’, không nói ‘các hành...’, không nói ‘thức là tôi’, tôi cũng không nói ‘tôi là khác với thức’. Tuy nhiên, thưa chư Hiền, đối với năm thủ uẩn, (sự nhận thức) ‘tôi là’ đã có nơi tôi, nhưng tôi không quán thấy rằng ‘đây là tôi’.
Kiñcāpi, āvuso, ariyasāvakassa pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni bhavanti, atha khvassa hoti: ‘yo ca pañcasu upādānakkhandhesu anusahagato asmīti māno, asmīti chando, asmīti anusayo asamūhato. So aparena samayena pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati—iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti. Tassimesu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato yopissa hoti pañcasu upādānakkhandhesu anusahagato ‘asmī’ti, māno ‘asmī’ti, chando ‘asmī’ti anusayo asamūhato, sopi samugghātaṁ gacchati.
Although a noble disciple has given up the five lower fetters, they still have a lingering residue of the conceit ‘I am’, the desire ‘I am’, and the underlying tendency ‘I am’ which has not been eradicated. After some time they meditate observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ As they do so, that lingering residue is eradicated.
‘Thưa chư Hiền, cho dù vị Thánh đệ tử đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, tuy vậy, đối với năm thủ uẩn, ngã mạn ‘tôi là’, dục tham ‘tôi là’, và tùy miên ‘tôi là’ vẫn còn tồn tại một cách vi tế, chưa được nhổ sạch. Về sau, vị ấy sống bằng cách quán chiếu sự sinh diệt của năm thủ uẩn: ‘Đây là sắc, đây là sự sinh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là sự sinh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Khi vị ấy sống bằng cách quán chiếu sự sinh diệt của năm thủ uẩn này, thì ngã mạn ‘tôi là’, dục tham ‘tôi là’, và tùy miên ‘tôi là’ vốn tồn tại một cách vi tế, chưa được nhổ sạch đối với năm thủ uẩn, cũng được đoạn trừ tận gốc.
Seyyathāpi, āvuso, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ. Tamenaṁ sāmikā rajakassa anupadajjuṁ. Tamenaṁ rajako ūse vā khāre vā gomaye vā sammadditvā acche udake vikkhāleti. Kiñcāpi taṁ hoti vatthaṁ parisuddhaṁ pariyodātaṁ, atha khvassa hoti yeva anusahagato ūsagandho vā khāragandho vā gomayagandho vā asamūhato. Tamenaṁ rajako sāmikānaṁ deti. Tamenaṁ sāmikā gandhaparibhāvite karaṇḍake nikkhipanti. Yopissa hoti anusahagato ūsagandho vā khāragandho vā gomayagandho vā asamūhato, sopi samugghātaṁ gacchati.
Evameva kho, āvuso, kiñcāpi ariyasāvakassa pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni bhavanti, atha khvassa hoti yeva pañcasu upādānakkhandhesu anusahagato ‘asmī’ti, māno ‘asmī’ti, chando ‘asmī’ti anusayo asamūhato. So aparena samayena pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati. ‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti. Tassa imesu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato yopissa hoti pañcasu upādānakkhandhesu anusahagato ‘asmī’ti, māno ‘asmī’ti, chando ‘asmī’ti anusayo asamūhato, sopi samugghātaṁ gacchatī”ti.
Suppose there was a cloth that was dirty and soiled, so the owners give it to a launderer. The launderer kneads it thoroughly with salt, lye, and cow dung, and rinses it in clear water. Although that cloth is clean and bright, it still has a lingering scent of salt, lye, or cow dung that had not been eradicated. The launderer returns it to its owners, who store it in a fragrant casket. And that lingering scent would be eradicated.
In the same way, although a noble disciple has given up the five lower fetters, they still have a lingering residue of the conceit ‘I am’, the desire ‘I am’, and the underlying tendency ‘I am’ which has not been eradicated. After some time they meditate observing rise and fall in the five grasping aggregates. ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ As they do so, that lingering residue is eradicated.”
“Này chư hiền, ví như một tấm vải bị dơ bẩn, lấm lem. Chủ nhân của nó giao cho người thợ giặt. Người thợ giặt ấy chà xát nó với tro, hoặc với muối, hoặc với phân bò, rồi giặt sạch trong nước trong. Dù cho tấm vải ấy trở nên trong sạch, tinh khiết, nhưng vẫn còn sót lại mùi tro, hoặc mùi muối, hoặc mùi phân bò thoang thoảng chưa được tẩy sạch. Người thợ giặt giao lại tấm vải ấy cho chủ nhân. Chủ nhân cất nó vào trong một cái hộp đã được ướp hương. Mùi tro, hoặc mùi muối, hoặc mùi phân bò thoang thoảng còn sót lại chưa được tẩy sạch ấy, mùi ấy cũng được trừ diệt hoàn toàn. Cũng vậy, này chư hiền, dù cho vị Thánh đệ tử đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, nhưng đối với năm thủ uẩn, vẫn còn sót lại ngã mạn ‘tôi là’, dục tham ‘tôi là’, và tùy miên ‘tôi là’ chưa được nhổ sạch. Về sau, vị ấy sống quán chiếu sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: ‘Đây là sắc, đây là sự tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là sự tập khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức’. Đối với vị ấy, khi sống quán chiếu sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, thì ngã mạn ‘tôi là’, dục tham ‘tôi là’, và tùy miên ‘tôi là’ còn sót lại trong năm thủ uẩn chưa được nhổ sạch, chúng cũng được trừ diệt hoàn toàn.”
Evaṁ vutte, therā bhikkhū āyasmantaṁ khemakaṁ etadavocuṁ: “na kho mayaṁ āyasmantaṁ khemakaṁ vihesāpekhā pucchimha, api cāyasmā khemako pahosi tassa bhagavato sāsanaṁ vitthārena ācikkhituṁ desetuṁ paññāpetuṁ paṭṭhapetuṁ vivarituṁ vibhajituṁ uttānīkātuṁ. Tayidaṁ āyasmatā khemakena tassa bhagavato sāsanaṁ vitthārena ācikkhitaṁ desitaṁ paññāpitaṁ paṭṭhapitaṁ vivaritaṁ vibhajitaṁ uttānīkatan”ti.
When he said this, the senior mendicants said to Venerable Khemaka, “We didn’t want to trouble Venerable Khemaka with our questions. But you’re capable of explaining, teaching, asserting, establishing, clarifying, analyzing, and revealing the Buddha’s instructions in detail. And that’s just what you’ve done.”
Khi được nói như vậy, các vị Trưởng lão Tỳ khưu đã nói với Tôn giả Khemaka rằng: “Thưa Tôn giả Khemaka, chúng tôi hỏi không phải với ý định làm phiền ngài, nhưng Tôn giả Khemaka có khả năng trình bày, giảng dạy, tuyên bố, thiết lập, khai mở, phân tích, và làm cho sáng tỏ giáo pháp của Đức Thế Tôn một cách chi tiết. Và giáo pháp ấy của Đức Thế Tôn đã được Tôn giả Khemaka trình bày, giảng dạy, tuyên bố, thiết lập, khai mở, phân tích, và làm cho sáng tỏ một cách chi tiết.”
Idamavoca āyasmā khemako. Attamanā therā bhikkhū āyasmato khemakassa bhāsitaṁ abhinanduṁ. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ therānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu, āyasmato khemakassa cāti.
Sattamaṁ.
That is what Venerable Khemaka said. Satisfied, the senior mendicants approved what Khemaka said. And while this discourse was being spoken, the minds of sixty senior mendicants and of Venerable Khemaka were freed from defilements by not grasping.
Tôn giả Khemaka đã nói như vậy. Các vị Trưởng lão Tỳ khưu hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Khemaka. Và trong khi bài pháp thoại này được thuyết giảng, tâm của khoảng sáu mươi vị Trưởng lão Tỳ khưu và của cả Tôn giả Khemaka, nhờ không còn chấp thủ, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. (Kinh) thứ bảy.