- Saṁyutta Nikāya 22.76
- 8. Khajjanīyavagga
Bản dịch
SN 22.76 — Kinh A-la-hán
Arahantasutta
Vi-n 1-2~1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-6. … thọ … tưởng … các hành là vô thường …
Vi-n 7~3 Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8~4 Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành.. đối với thức.
Vi-n 9~5 Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 10~6 Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.
Vi-n 11~7 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~8 An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.Vi-n 2~9 Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.Vi-n 3~10 Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.Vi-n 4~11 Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.Vi-n 5~12 Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.
Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.Vi-n 6~13 Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.Vi-n 7~14 Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.Vi-n 8~15 Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.76
- 8. Bitable
The Perfected Ones
4. Kinh A-la-hán
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā; yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā; yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Feeling …
Perception …
Choices …
Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
76. Nhân duyên ở Sāvatthi. Này các Tỷ kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’. Thọ… tưởng… các hành… thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Yāvatā, bhikkhave, sattāvāsā, yāvatā bhavaggaṁ, ete aggā, ete seṭṭhā lokasmiṁ yadidaṁ arahanto”ti.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ As far as there are abodes of sentient beings, even up until the pinnacle of existence, the perfected ones are the foremost and the best.”
Này các Tỷ kheo, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ… yếm ly đối với tưởng… yếm ly đối với các hành… yếm ly đối với thức. Do yếm ly nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỷ kheo, cho đến các chúng sanh trú, cho đến cõi Hữu Đảnh, các vị A-la-hán này là tối thượng, các vị ấy là tối thắng ở trong đời.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã thuyết như vậy. Sau khi thuyết như vậy, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Sukhino vata arahanto, taṇhā tesaṁ na vijjati; Asmimāno samucchinno, mohajālaṁ padālitaṁ.
“Oh! How happy are the perfected ones! Craving is not found in them, the conceit ‘I am’ is cut off, and the net of delusion is shattered.
“Thật an lạc thay, các bậc A-la-hán! Nơi các vị ấy, ái dục không tồn tại. Ngã mạn đã được đoạn trừ, lưới si mê đã được phá tan.
Anejaṁ te anuppattā, cittaṁ tesaṁ anāvilaṁ; Loke anupalittā te, brahmabhūtā anāsavā.
They’ve attained imperturbability, their minds are unclouded, nothing in the world clings to them, manifesting divinity, undefiled.
“Các vị ấy đã đạt đến trạng thái không dao động, tâm của các vị ấy không vẩn đục. Các vị ấy không bị ô nhiễm ở đời, đã trở thành Phạm thể, không còn lậu hoặc.
Pañcakkhandhe pariññāya, satta saddhammagocarā; Pasaṁsiyā sappurisā, puttā buddhassa orasā.
Completely understanding the five aggregates, their domain is the seven good qualities. Those true persons are praiseworthy, the Buddha’s bosom sons.
“Sau khi đã liễu tri năm uẩn, với bảy diệu pháp làm hành xứ, các bậc chân nhân đáng được tán dương, là những người con đích thực của Đức Phật.
Sattaratanasampannā, Tīsu sikkhāsu sikkhitā; Anuvicaranti mahāvīrā, Pahīnabhayabheravā.
Endowed with the seven gems, and trained in the three trainings, the great heroes live on, with fear and dread given up.
“Đầy đủ bảy loại bảo vật, đã tu tập trong ba học giới, các bậc đại hùng du hành đây đó, đã đoạn tận mọi sợ hãi kinh hoàng.
Dasahaṅgehi sampannā, mahānāgā samāhitā; Ete kho seṭṭhā lokasmiṁ, taṇhā tesaṁ na vijjati.
Endowed with ten factors, those giants are immersed in samādhi. They are the best in the world, craving is not found in them.
“Đầy đủ mười chi phần, các bậc đại long, tâm định tĩnh. Các vị ấy thật là tối thắng ở trong đời, nơi các vị ấy, ái dục không tồn tại.
Asekhañāṇamuppannaṁ, antimoyaṁ samussayo; Yo sāro brahmacariyassa, tasmiṁ aparapaccayā.
The adept’s knowledge has arisen: ‘This bag of bones is my last.’ They are independent of others in the core of the spiritual path.
“Vô học trí đã khởi sanh, đây là thân cuối cùng. Về cốt lõi của phạm hạnh, các vị ấy không còn duyên với người khác.
Vidhāsu na vikampanti, vippamuttā punabbhavā; Dantabhūmimanuppattā, te loke vijitāvino.
They do not waver due to the discriminations, they’re freed from future lives. They’ve reached the level of the tamed, in the world, they’re the winners.
“Không dao động trong các loại kiêu mạn, đã giải thoát khỏi tái sanh. Đã đạt đến cảnh giới điều phục, các vị ấy là người chiến thắng ở trong đời.
Uddhaṁ tiriyaṁ apācīnaṁ, nandī tesaṁ na vijjati; Nadanti te sīhanādaṁ, buddhā loke anuttarā”ti.
Catutthaṁ.
Above, below, all round, relishing is not found in them. They roar their lion’s roar: ‘The awakened are supreme in the world!’”
“Trên, dưới, và ngang, nơi các vị ấy, hỷ lạc không tồn tại. Các vị ấy rống tiếng rống sư tử: ‘Các Đức Phật ở đời là bậc vô thượng!’”.