- Saṁyutta Nikāya 22.35
- 4. Natumhākavagga
Bản dịch
SN 22.35 — Kinh Vị Tỳ Khưu Nào Đó
Aññatarabhikkhusutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
[I]
Vi-n 2 Rồi một vị Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Này Tỷ-kheo, cái gì người ta thiên chấp tùy miên, người ta sẽ được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy. Cái gì người ta không thiên chấp tùy miên, người ta sẽ không được xưng danh tùy theo thiên chấp tùy miên ấy.
—Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
Vi-n 5 —Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi điều Ta nói một cách vắn tắt?
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp tưởng, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp các hành, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh.
Vi-n 7 Bạch Thế Tôn, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu không thiên chấp thọ … Nếu không thiên chấp tưởng … Nếu không thiên chấp hành … Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Bạch Thế Tôn, với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 8 —Lành thay, lành thay, Tỷ-kheo! Lành thay, với lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu thiên chấp sắc, do thiên chấp ấy được xưng danh. Nếu thiên chấp thọ … Nếu thiên chấp tưởng … Nếu thiên chấp các hành … Nếu thiên chấp thức, do thiên chấp ấy được xưng danh. Này Tỷ-kheo, nếu không thiên chấp sắc, không do thiên chấp ấy được xưng danh … Nếu không thiên chấp thọ … Nếu không thiên chấp tưởng … Nếu không thiên chấp các hành … Nếu không thiên chấp thức, không do thiên chấp ấy được xưng danh. Với lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 9 Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
[II]
Vi-n 10 Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà con nhà lương gia chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh. Vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 11 Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.35
- 4. It’s Not Yours
A Mendicant
3. Kinh Vị Tỳ Khưu Nào Đó
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu; yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho, appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Yaṁ kho, bhikkhu, anuseti, tena saṅkhaṁ gacchati; yaṁ nānuseti, na tena saṅkhaṁ gacchatī”ti.
“Aññātaṁ, bhagavā, aññātaṁ, sugatā”ti.
At Sāvatthī.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“Mendicant, you’re reckoned by what you have an underlying tendency for. You’re not reckoned by what you have no underlying tendency for.”
“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”
35. Tại Sāvatthī. Rồi một vị Tỳ khưu nào đó đi đến Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con một cách tóm tắt; để sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần." "Này Tỳ khưu, cái gì mà một người bị ám ảnh, người ấy được biết đến qua cái đó; cái gì mà một người không bị ám ảnh, người ấy không được biết đến qua cái đó." "Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ!"
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsī”ti?
“Rūpañce, bhante, anuseti tena saṅkhaṁ gacchati. Vedanañce anuseti tena saṅkhaṁ gacchati. Saññañce anuseti tena saṅkhaṁ gacchati. Saṅkhāre ce anuseti tena saṅkhaṁ gacchati. Viññāṇañce anuseti tena saṅkhaṁ gacchati.
Rūpañce, bhante, nānuseti na tena saṅkhaṁ gacchati. Vedanañce … saññañce … saṅkhāre ce … viññāṇañce nānuseti na tena saṅkhaṁ gacchati.
Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”
“If you have an underlying tendency for form, you’re reckoned by that. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re reckoned by that.
If you have no underlying tendency for form, you’re not reckoned by that. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not reckoned by that.
That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”
“Này Tỳ khưu, thầy đã hiểu rộng rãi ý nghĩa của những gì ta đã nói một cách tóm tắt như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, nếu có tùy miên đối với sắc, do đó mà có sự gọi tên. Nếu có tùy miên đối với thọ, do đó mà có sự gọi tên. Nếu có tùy miên đối với tưởng, do đó mà có sự gọi tên. Nếu có tùy miên đối với các hành, do đó mà có sự gọi tên. Nếu có tùy miên đối với thức, do đó mà có sự gọi tên. Bạch Thế Tôn, nếu không có tùy miên đối với sắc, do đó mà không có sự gọi tên. Nếu không có tùy miên đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nếu không có tùy miên đối với thức, do đó mà không có sự gọi tên. Bạch Thế Tôn, con hiểu rộng rãi ý nghĩa của những gì đã được Thế Tôn nói một cách tóm tắt là như vậy.”
“Sādhu sādhu, bhikkhu. Sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsi.
Rūpañce, bhikkhu, anuseti tena saṅkhaṁ gacchati. Vedanañce … saññañce … saṅkhāre ce … viññāṇañce anuseti tena saṅkhaṁ gacchati.
Rūpañce, bhikkhu, nānuseti na tena saṅkhaṁ gacchati. Vedanañce … saññañce … saṅkhāre ce … viññāṇañce nānuseti na tena saṅkhaṁ gacchati.
Imassa kho, bhikkhu, mayā saṅkhittena, bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
“Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.
If you have an underlying tendency for form, you’re reckoned by that. If you have an underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re reckoned by that.
If you have no underlying tendency for form, you’re not reckoned by that. If you have no underlying tendency for feeling … perception … choices … consciousness, you’re not reckoned by that.
This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”
“Lành thay, lành thay, này Tỳ khưu! Này Tỳ khưu, thầy đã hiểu rộng rãi ý nghĩa của những gì ta đã nói một cách tóm tắt thật là khéo léo. Này Tỳ khưu, nếu có tùy miên đối với sắc, do đó mà có sự gọi tên. Nếu đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nếu có tùy miên đối với thức, do đó mà có sự gọi tên. Này Tỳ khưu, nếu không có tùy miên đối với sắc, do đó mà không có sự gọi tên. Nếu đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nếu không có tùy miên đối với thức, do đó mà không có sự gọi tên. Này Tỳ khưu, ý nghĩa của những gì ta đã nói một cách tóm tắt này nên được hiểu rộng rãi là như vậy.”
Atha kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
And then that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bấy giờ, vị Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra đi.
Atha kho so bhikkhu eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca pana so bhikkhu arahataṁ ahosīti.
Tatiyaṁ.
Then that mendicant, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.
Bấy giờ, vị Tỳ khưu ấy, sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và vị Tỳ khưu ấy đã trở thành một trong các vị A-la-hán. Hết phẩm thứ ba.