- Saṁyutta Nikāya 22.18
- 2. Aniccavagga
Bản dịch
SN 22.18 — Kinh Vô Thường Cùng Với Nguyên Nhân
Sahetuaniccasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Sắc đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?
Vi-n 4 Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thọ sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thọ đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?
Vi-n 5 Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 6 Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 7 Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho thức sanh khởi; cái ấy cũng vô thường. Thức đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, này các Tỷ-kheo, từ đâu có thể thường được?
Vi-n 8 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc … ” … không còn trở lui với trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.18
- 2. Impermanence
Impermanence With Its Cause
7. Kinh Vô Thường Cùng Với Nguyên Nhân
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ. Yopi hetu, yopi paccayo rūpassa uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūtaṁ, bhikkhave, rūpaṁ kuto niccaṁ bhavissati.
Vedanā aniccā. Yopi hetu, yopi paccayo vedanāya uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūtā, bhikkhave, vedanā kuto niccā bhavissati.
Saññā aniccā …
saṅkhārā aniccā. Yopi hetu yopi paccayo saṅkhārānaṁ uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūtā, bhikkhave, saṅkhārā kuto niccā bhavissanti.
Viññāṇaṁ aniccaṁ. Yopi hetu yopi paccayo viññāṇassa uppādāya, sopi anicco. Aniccasambhūtaṁ, bhikkhave, viññāṇaṁ kuto niccaṁ bhavissati.
Evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form is impermanent. The cause and reason that gives rise to form is also impermanent. Since form is produced by what is impermanent, how could it be permanent?
Feeling is impermanent …
Perception is impermanent …
Choices are impermanent …
Consciousness is impermanent. The cause and reason that gives rise to consciousness is also impermanent. Since consciousness is produced by what is impermanent, how could it be permanent?
Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
18. Nhân duyên ở Sāvatthī. "Này các Tỳ khưu, sắc là vô thường. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của sắc, nhân duyên đó cũng vô thường. Này các Tỳ khưu, sắc được sanh khởi từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được! Thọ là vô thường. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của thọ, nhân duyên đó cũng vô thường. Này các Tỳ khưu, thọ được sanh khởi từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được! Tưởng là vô thường... các hành là vô thường. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của các hành, nhân duyên đó cũng vô thường. Này các Tỳ khưu, các hành được sanh khởi từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được! Thức là vô thường. Bất cứ nhân nào, bất cứ duyên nào cho sự sanh khởi của thức, nhân duyên đó cũng vô thường. Này các Tỳ khưu, thức được sanh khởi từ cái vô thường, làm sao có thể thường hằng được! Khi thấy như vậy... cho đến... vị ấy biết rõ: 'không còn trở lui trạng thái này nữa'." Kinh thứ bảy.