- Saṁyutta Nikāya 22.15
- 2. Aniccavagga
Bản dịch
SN 22.15 — Kinh Cái Gì Vô Thường
Yadaniccasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4 Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 5 Tưởng, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 6 Các hành, này các Tỷ-kheo, là vô thường …
Vi-n 7 Thức, này các Tỷ-kheo, là vô thường; cái gì vô thường là khổ; cái gì khổ là vô ngã; cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.15
- 2. Impermanence
That Which is Impermanent
4. Kinh Cái Gì Vô Thường
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā; yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā aniccā. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā; yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Saññā aniccā …pe…
saṅkhārā aniccā …
viññāṇaṁ aniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā; yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Feeling is impermanent …
Perception is impermanent …
Choices are impermanent …
Consciousness is impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
15. Nhân duyên ở Sāvatthī. "Này các Tỳ khưu, sắc là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì là khổ, cái đó là vô ngã; cái gì là vô ngã, nên thấy điều đó bằng chánh trí tuệ như thật rằng: 'Cái này không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải là tự ngã của ta'. Thọ là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì là khổ, cái đó là vô ngã; cái gì là vô ngã, nên thấy điều đó bằng chánh trí tuệ như thật rằng: 'Cái này không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải là tự ngã của ta'. Tưởng là vô thường... cho đến... các hành là vô thường... thức là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì là khổ, cái đó là vô ngã; cái gì là vô ngã, nên thấy điều đó bằng chánh trí tuệ như thật rằng: 'Cái này không phải của ta, đây không phải là ta, đây không phải là tự ngã của ta'. Khi thấy như vậy... cho đến... vị ấy biết rõ: 'không còn trở lui trạng thái này nữa'." Kinh thứ tư.