- Saṁyutta Nikāya 22.146
- 14. Kukkuḷavagga
Bản dịch
SN 22.146 — Kinh Yểm Ly Nhiều
Nibbidābahulasutta
Vi-n 1-2 Nhân duyên ở Sāvatthī…
Vi-n 3 —Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Vi-n 4 Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vi-n 5 Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.146
- 14. Burning Chaff
Full of Disillusionment
11. Kinh Yểm Ly Nhiều
Sāvatthinidānaṁ.
“Saddhāpabbajitassa, bhikkhave, kulaputtassa ayamanudhammo hoti—yaṁ rūpe nibbidābahulo vihareyya. Vedanāya …pe… saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo vihareyya. Yo rūpe nibbidābahulo viharanto, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo viharanto rūpaṁ parijānāti, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānāti; so rūpaṁ parijānaṁ vedanaṁ parijānaṁ saññaṁ parijānaṁ saṅkhāre parijānaṁ viññāṇaṁ parijānaṁ parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; ‘parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Ekādasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teaching. They should live full of disillusionment for form, feeling, perception, choices, and consciousness. Living in this way, they completely understand form, feeling, perception, choices, and consciousness. Completely understanding form, feeling, perception, choices, and consciousness, they’re freed from these things. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.”
146. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỷ kheo, đối với thiện nam tử đã xuất gia với đức tin, đây là pháp tùy pháp: vị ấy nên trú với sự yểm ly nhiều đối với sắc. Đối với thọ... tóm tắt... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, vị ấy nên trú với sự yểm ly nhiều. Vị nào đang trú với sự yểm ly nhiều đối với sắc, đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ... liễu tri tưởng... liễu tri các hành... liễu tri thức. Vị ấy, do liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức, được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau’. (Kinh) thứ mười một.