- Saṁyutta Nikāya 22.13
- 2. Aniccavagga
Dukkhasutta
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ, vedanā dukkhā, saññā dukkhā, saṅkhārā dukkhā, viññāṇaṁ dukkhaṁ.
Evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
Bản dịch
Dukkhasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3-7. —Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ…, thọ là khổ…, tưởng là khổ…, các hành là khổ…, thức là khổ …
Vi-n 8 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ, vedanā dukkhā, saññā dukkhā, saṅkhārā dukkhā, viññāṇaṁ dukkhaṁ.
Evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form, feeling, perception, choices, and consciousness are suffering.
Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
13. Nhân duyên ở Sāvatthī. "Này các Tỳ khưu, sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, các hành là khổ, thức là khổ. Khi thấy như vậy... cho đến... vị ấy biết rõ: 'không còn trở lui trạng thái này nữa'." Kinh thứ hai.