- Saṁyutta Nikāya 22.110
- 11. Antavagga
Bản dịch
SN 22.110 — Kinh A-la-hán
Arahantasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn.
Vi-n 4 Và khi nào vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không có chấp thủ. Vị Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị A-la-hán, các lậu hoặc được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.110
- 11. Ends
A Perfected One
8. Kinh A-la-hán
Sāvatthinidānaṁ.
“Pañcime, bhikkhave, upādānakkhandhā. Katame pañca? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho. Yato kho, bhikkhave, bhikkhu imesaṁ pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto hoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto”ti.
Aṭṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. A mendicant comes to be freed by not grasping after truly understanding these five grasping aggregates’ origin, disappearance, gratification, drawback, and escape. Such a mendicant is called a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment.”
110. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Tức là: sắc thủ uẩn... cho đến... thức thủ uẩn. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu, sau khi đã biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, được giải thoát không còn chấp thủ, vị Tỳ khưu ấy, này các Tỳ khưu, được gọi là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, kiết sử hữu đã đoạn tận, giải thoát nhờ chánh trí.” (Kinh) thứ tám.