- Saṁyutta Nikāya 19.21
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 19.21 — Kinh Vị Sa-di-ni Ác Hạnh
Pāpasāmaṇerīsutta
Vi-n 1 Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.
Vi-n 2 Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 3 Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy”.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Vi-n 5 Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Vi-n 6 Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 19.21
- Chapter Two
A Bad Novice Nun
11. Kinh Vị Sa-di-ni Ác Hạnh
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sāmaṇeriṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tassā saṅghāṭipi ādittā sampajjalitā sajotibhūtā, pattopi āditto sampajjalito sajotibhūto, kāyabandhanampi ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ, kāyopi āditto sampajjalito sajotibhūto. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti. Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Evarūpopi nāma satto bhavissati. Evarūpopi nāma yakkho bhavissati. Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’”ti.
“Just now, reverend, as I was descending from Vulture’s Peak Mountain I saw a novice nun flying through the air. Her outer robe, bowl, belt, and body were burning, blazing, and glowing as she screamed in pain. It occurred to me: ‘Oh lord, how incredible, how amazing! That there can be such a sentient being, such a spirit, such an incarnation!’”
222. “Này hiền giả, ở đây, khi đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), tôi đã trông thấy một vị sa-di-ni đang đi trên hư không. Y tăng-già-lê của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; cái bát của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; dây thắt lưng của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói; thân thể của vị ấy đang bốc cháy, rực lửa, sáng chói. Vị ấy đang la hét đau đớn. Này hiền giả, tôi đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Chư vị ơi, thật là kỳ diệu thay! Chư vị ơi, thật là hy hữu thay! Lại có một chúng sanh như thế này! Lại có một dạ-xoa như thế này! Lại có sự thành tựu thân mạng như thế này!’”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti; ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
Pubbeva me sā, bhikkhave, sāmaṇerī diṭṭhā ahosi. Api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Esā, bhikkhave, sāmaṇerī kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpasāmaṇerī ahosi. Sā tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
Ekādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Then the Buddha said to the mendicants:
“Mendicants, there are disciples who live full of vision and knowledge, since a disciple knows, sees, and witnesses such a thing.
Formerly, I too saw that novice nun, but I did not speak of it. For if I had spoken of it others would not have believed me, which would be for their lasting harm and suffering.
That female novice used to be a bad novice nun in the time of the Buddha Kassapa’s dispensation. As a result of that deed she burned in hell for many years, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years. Now she experiences the residual result of that deed in such an incarnation.”
Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu và dạy: “Này các tỳ khưu, các vị thinh văn đang sống với con mắt (pháp nhãn) đã được sanh khởi! Này các tỳ khưu, các vị thinh văn đang sống với trí tuệ đã được sanh khởi! Do đó, một vị thinh văn có thể biết, có thể thấy, hoặc có thể làm chứng cho một cảnh tượng như vậy. Này các tỳ khưu, trước đây Như Lai cũng đã từng thấy vị sa-di-ni ấy, nhưng Như Lai đã không tuyên bố. Nếu Như Lai tuyên bố điều ấy, những người khác có thể không tin Như Lai. Đối với những ai không tin Như Lai, điều ấy sẽ dẫn đến sự bất hạnh và đau khổ lâu dài cho họ. Này các tỳ khưu, vị sa-di-ni này đã là một sa-di-ni ác hạnh trong giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác Kassapa. Do kết quả của nghiệp ấy, vị ấy đã bị nấu trong địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Và do quả báo còn sót lại của chính nghiệp ấy, vị ấy đang phải trải nghiệm sự thành tựu thân mạng như thế này.”
Kūpe nimuggo hi so pāradāriko, Gūthakhādi ahu duṭṭhabrāhmaṇo;
Kẻ bị chìm trong hố phân là người ngoại tình; kẻ ăn phân là vị bà-la-môn ác độc.
Người đàn bà không da là người đã ngoại tình; người đàn bà xấu xí là một nữ thầy bói.
Người đàn bà bị than hồng bao phủ là người đã đổ than hồng lên tình địch; người bị chặt đầu là kẻ giết trộm.
Bhikkhu bhikkhunī sikkhamānā, Sāmaṇero atha sāmaṇerikā;
Vị tỳ khưu, vị tỳ khưu ni, vị học nữ, vị sa-di, và vị sa-di-ni.
Những người này, sau khi xuất gia trong giáo pháp của đức Kassapa, đã làm các việc ác.
Lakkhaṇasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses with Mark are complete.
Tương Ưng Lakkhana Kết Thúc.