- Saṁyutta Nikāya 18.22
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 18.22 — Apagatasutta
Apagatasutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Rāhula đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rāhula bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly được ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, siêu việt mọi ngã mạn, tịch tịnh, giải thoát?
Vi-n 4 —Này Rāhula, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 5 Này Rāhula, phàm thọ gì … phàm tưởng gì … phàm hành gì … phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 6 Này Rāhula, do biết như vậy, thấy như vậy, trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn ly ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt khỏi các ngã mạn, được tịch tịnh, giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 18.22
- Chapter Two
Rid of Conceit
12. Kinh Đoạn Trừ
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā rāhulo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rāhulo bhagavantaṁ etadavoca:
“kathaṁ nu kho, bhante, jānato kathaṁ passato imasmiṁ ca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti?
“Yaṁ kiñci, rāhula, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti.
At Sāvatthī.
Then Venerable Rāhula went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, how does one know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”
“Rāhula, one truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
201. Nhân duyên ở Sāvatthī. Rồi Tôn giả Rāhula đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Rāhula bạch với Thế Tôn điều này: – “Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào mà đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở bên ngoài, tâm được đoạn trừ ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn, vượt qua các loại mạn, được tịch tịnh, được khéo giải thoát?” – “Này Rāhula, bất cứ sắc nào, quá khứ, tương lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc ấy, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ.”
Yā kāci vedanā …pe… yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, rāhula, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti.
Dvādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
One truly sees any kind of feeling … perception … choices … One truly sees any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self,’ one is freed by not grasping.
That’s how to know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed.”
“Bất cứ thọ nào... (như trên)... bất cứ tưởng nào... bất cứ các hành nào... bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức ấy, sau khi thấy với chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi,’ vị ấy được giải thoát không còn chấp thủ. Này Rāhula, do biết như vậy, do thấy như vậy mà đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở bên ngoài, tâm được đoạn trừ ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn, vượt qua các loại mạn, được tịch tịnh, được khéo giải thoát.” Kinh thứ mười hai.
Cakkhu rūpañca viññāṇaṁ, Samphasso vedanāya ca; Saññā sañcetanā taṇhā, Dhātu khandhena te dasa; Anusayaṁ apagatañceva, Vaggo tena pavuccatīti.
Mắt, sắc, và thức, xúc và cùng với thọ; Tưởng, tư, ái, đại, và uẩn là mười kinh ấy; Tùy miên và đoạn trừ, do đó phẩm được gọi tên.
Rāhulasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses with Rāhula are complete.
Tương Ưng Rāhula đã hoàn tất.