- Saṁyutta Nikāya 18.2
- 1. Paṭhamavagga
Rūpasutta
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …pe… saddā … gandhā … rasā … phoṭṭhabbā … dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …
Bản dịch
Rūpasutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3-6. Thanh … Hương … Vị … Xúc …
Vi-n 7 —Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Pháp là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
Vi-n 8 —Thấy vậy, này Rāhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc … nhàm chán pháp.
Vi-n 9 Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula, rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …pe… saddā … gandhā … rasā … phoṭṭhabbā … dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula? Are sights permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” … “… sounds … smells … tastes … touches … Are ideas permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
199. Trú ở Sāvatthī... ... Này Rāhula, thầy nghĩ thế nào, các sắc là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. ... các thanh ... các hương ... các vị ... các xúc ... các pháp...
“evaṁ passaṁ, rāhula, sutavā ariyasāvako rūpesupi nibbindati … saddesupi nibbindati … gandhesupi nibbindati … rasesupi nibbindati … phoṭṭhabbesupi nibbindati … dhammesupi nibbindati; nibbindaṁ virajjati …pe… pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Being disillusioned, desire fades away. …”
198. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī. Bấy giờ, Tôn giả Rāhula đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Rāhula đang ngồi một bên như sau: – Này Rāhula, thầy nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay vui? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. – Lỗ tai ... lỗ mũi ... lưỡi ... thân ... ý là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay vui? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. – Này Rāhula, vị Thánh đệ tử có nghe và thấy như vậy thì nhàm chán cả con mắt, ... nhàm chán cả lỗ tai, ... nhàm chán cả lỗ mũi, ... nhàm chán cả lưỡi, ... nhàm chán cả thân, ... nhàm chán cả ý; do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Mười bài kinh nên được thực hiện theo cách tóm lược này. Kinh thứ nhất.