- Saṁyutta Nikāya 17.30
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 17.30 — Kinh Tỳ Khưu (Bhikkhu)
Bhikkhusutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Vị Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, là bậc Ứng Cúng, đã đoạn tận các lậu hoặc; Ta nói, lợi đắc, cung kính, danh vọng vẫn là pháp chướng ngại cho vị Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 3 Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, với vị Tỷ-kheo, lậu hoặc nào được đoạn tận thì các lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp?
Vi-n 4 —Ðối với vị đã chứng bất động tâm giải thoát, Ta không nói rằng, các lợi đắc, cung kính, danh vọng trở thành một chướng ngại pháp cho vị ấy.
Vi-n 5 Và này Ānanda, đối với những ai sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần; những người chứng được hiện tại lạc trú; đối với những người ấy, Ta nói rằng, lợi đắc, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp.
Vi-n 6 Như vậy, khổ lụy, này Ānanda, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 7 Do vậy, này Ānanda, cần phải học tập như vầy: “Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 8 Như vậy, này Ānanda, Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.30
- Chapter Three
A Mendicant With Defilements Ended
10. Kinh Tỳ Khưu (Bhikkhu)
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Yopi so, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo tassapāhaṁ lābhasakkārasiloko antarāyāya vadāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca: “kissa pana, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno lābhasakkārasiloko antarāyāyā”ti?
“Yā hissa sā, ānanda, akuppā cetovimutti nāhaṁ tassā lābhasakkārasilokaṁ antarāyāya vadāmi. Ye ca khvassa, ānanda, appamattassa ātāpino pahitattassa viharato diṭṭhadhammasukhavihārā adhigatā tesāhamassa lābhasakkārasilokaṁ antarāyāya vadāmi.
Evaṁ dāruṇo kho, ānanda, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātihānanda, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti. Evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
Tatiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
At Sāvatthī.
“Mendicants, possessions, honor, and popularity are an obstacle even for a mendicant who is perfected, with defilements ended.”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha, “Sir, what do possessions, honor, and popularity obstruct for a mendicant with defilements ended?”
“Ānanda, I don’t say that possessions, honor, and popularity obstruct the unshakable freedom of heart. But I do say that possessions, honor, and popularity obstruct the achievement of blissful meditations in this life for a meditator who is diligent, keen, and resolute.
So grim are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this: ‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’ That’s how you should train.”
179. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng lợi dưỡng, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp ngay cả đối với vị Tỳ khưu là bậc A-la-hán, đã tận trừ các lậu hoặc. Khi được nói như vậy, trưởng lão Ānanda đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, vì sao lợi dưỡng, cung kính, danh vọng lại là chướng ngại pháp đối với vị Tỳ khưu đã tận trừ các lậu hoặc?’ Này Ānanda, Ta không nói rằng lợi dưỡng, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp đối với tâm giải thoát bất động của vị ấy. Tuy nhiên, này Ānanda, đối với những hiện tại lạc trú mà vị ấy đã chứng đắc trong khi trú không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, Ta nói rằng lợi dưỡng, cung kính, danh vọng là chướng ngại pháp đối với những điều ấy. Này Ānanda, lợi dưỡng, cung kính, danh vọng là khốc liệt, cay đắng, thô bạo, là chướng ngại pháp cho việc chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các ách như vậy. Vì thế, này Ānanda, ở đây các ngươi nên học tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ từ bỏ lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi, và lợi dưỡng, cung kính, danh vọng đã sanh khởi sẽ không chiếm giữ và tồn tại trong tâm của chúng ta.’ Này Ānanda, các ngươi nên học tập như vậy. (Kinh) thứ mười.
Mātugāmo ca kalyāṇī, putto ca ekadhītu ca; Samaṇabrāhmaṇā tīṇi, chavi rajju ca bhikkhunāti.
Người nữ và người đẹp, con trai và con gái duy nhất; Ba kinh Sa-môn Bà-la-môn, Da, Dây Thừng, và Tỳ Khưu.