- Saṁyutta Nikāya 16.1
- 1. Kassapavagga
Santuṭṭhasutta
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Santuṭṭhāyaṁ, bhikkhave, kassapo itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī;
Bản dịch
Santuṭṭhasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
Vi-n 3 Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
Vi-n 4 Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
Vi-n 5 Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào … với bất cứ loại sàng tọa nào … với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập”.
Vi-n 7 Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các Ông; hay với người như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông cần phải thực hành như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Santuṭṭhāyaṁ, bhikkhave, kassapo itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī;
At Sāvatthī.
“Mendicants, Kassapa is content with any kind of robe, and praises such contentment.
1. Kinh Tri Túc
144. Tại Sāvatthī... Này các tỳ khưu, Kassapa này biết đủ với bất kỳ loại y phục nào, và tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại y phục nào; vị ấy không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do y phục; khi không nhận được y phục, vị ấy không lo lắng; và khi nhận được y phục, vị ấy sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly.
Santuṭṭhāyaṁ, bhikkhave, kassapo itarītarena piṇḍapātena, itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī; na ca piṇḍapātahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca piṇḍapātaṁ na paritassati; laddhā ca piṇḍapātaṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Kassapa is content with any kind of almsfood …
Này các tỳ khưu, Kassapa này biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào, và tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào; vị ấy không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do vật thực khất thực; khi không nhận được vật thực khất thực, vị ấy không lo lắng; và khi nhận được vật thực khất thực, vị ấy sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly.
Santuṭṭhāyaṁ, bhikkhave, kassapo itarītarena senāsanena, itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī; na ca senāsanahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca senāsanaṁ na paritassati; laddhā ca senāsanaṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Kassapa is content with any kind of lodging …
Này các tỳ khưu, Kassapa này biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào, và tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào; vị ấy không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do sàng tọa; khi không nhận được sàng tọa, vị ấy không lo lắng; và khi nhận được sàng tọa, vị ấy sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly.
Santuṭṭhāyaṁ, bhikkhave, kassapo itarītarena gilānappaccayabhesajjaparikkhārena, itarītaragilānappaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī; na ca gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjati; aladdhā ca gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ na paritassati; laddhā ca gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ agadhito amucchito anajjhāpanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Kassapa is content with any kind of medicines and supplies for the sick …
Này các tỳ khưu, Kassapa này biết đủ với bất kỳ loại dược phẩm và vật dụng trị bệnh nào, và tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại dược phẩm và vật dụng trị bệnh nào; vị ấy không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do dược phẩm và vật dụng trị bệnh; khi không nhận được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, vị ấy không lo lắng; và khi nhận được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, vị ấy sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘santuṭṭhā bhavissāma itarītarena cīvarena, itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādino; na ca cīvarahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjissāma; aladdhā ca cīvaraṁ na ca paritassissāma; laddhā ca cīvaraṁ agadhitā amucchitā anajjhāpannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjissāma’.
(Evaṁ sabbaṁ kātabbaṁ.)
So you should train like this: ‘We will be content with any kind of robe, and praise such contentment. We won’t employ improper solicitation for the sake of a robe. We won’t worry if we don’t get a robe. And if we do get a robe, we’ll use it untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawback, and understanding the escape.’
(All should be told in full the same way.)
Này các tỳ khưu, vì thế ở đây các thầy phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ biết đủ với bất kỳ loại y phục nào, và sẽ là người tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại y phục nào; chúng ta sẽ không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do y phục; khi không nhận được y phục, chúng ta sẽ không lo lắng; và khi nhận được y phục, chúng ta sẽ sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly’. (Tất cả nên được thực hành như vậy).
‘Santuṭṭhā bhavissāma itarītarena piṇḍapātena …pe… santuṭṭhā bhavissāma itarītarena senāsanena …pe… santuṭṭhā bhavissāma itarītarena gilānappaccayabhesajjaparikkhārena, itarītaragilānappaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādino; na ca gilānappaccayabhesajjaparikkhārahetu anesanaṁ appatirūpaṁ āpajjissāma aladdhā ca gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ na paritassissāma; laddhā ca gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ agadhitā amucchitā anajjhāpannā ādīnavadassāvino nissaraṇapaññā paribhuñjissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
‘We will be content with any kind of almsfood …’ ‘We will be content with any kind of lodging …’ ‘We will be content with any kind of medicines and supplies for the sick …’ That’s how you should train.
‘Chúng ta sẽ biết đủ với bất kỳ loại vật thực khất thực nào... (tương tự)... chúng ta sẽ biết đủ với bất kỳ loại sàng tọa nào... (tương tự)... chúng ta sẽ biết đủ với bất kỳ loại dược phẩm và vật dụng trị bệnh nào, và sẽ là người tán dương sự biết đủ với bất kỳ loại dược phẩm và vật dụng trị bệnh nào; chúng ta sẽ không rơi vào sự tìm cầu không thích đáng, không phù hợp vì lý do dược phẩm và vật dụng trị bệnh; khi không nhận được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, chúng ta sẽ không lo lắng; và khi nhận được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, chúng ta sẽ sử dụng nó mà không tham đắm, không mê muội, không bị trói buộc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự thoát ly’. Này các tỳ khưu, quả thật các thầy phải học tập như vậy. Này các tỳ khưu, Ta sẽ khuyên dạy các thầy bằng (gương của) Kassapa, hoặc bằng bất cứ ai giống như Kassapa. Và khi đã được khuyên dạy, các thầy phải thực hành để đạt được trạng thái ấy. (Kinh thứ nhất).
Paṭhamaṁ.
“Này các Tỳ khưu, Kassapa thuyết pháp cho người khác với tâm như vầy: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Mong thay, họ sẽ nghe pháp của ta, sau khi nghe xong, mong thay họ sẽ hiểu pháp, sau khi hiểu xong, mong thay họ sẽ thực hành đúng theo pháp ấy.’ Vị ấy thuyết pháp cho người khác vì tính chất tốt đẹp của Pháp, vị ấy thuyết pháp cho người khác vì lòng bi mẫn, vì lòng thương xót, vì lòng trắc ẩn. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giáo huấn các ngươi bằng (tấm gương của) Kassapa, hoặc bằng người nào khác giống như Kassapa. Và sau khi được giáo huấn, các ngươi phải thực hành đúng theo như vậy.” Kinh thứ ba.