- Saṁyutta Nikāya 15.5
- 1. Paṭhamavagga
Bản dịch
SN 15.5 — Kinh Núi
Pabbatasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
Vi-n 4 —Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
Vi-n 6 —Có thể được, này Tỷ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỷ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kāsi. Này Tỷ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
Vi-n 7 Như vậy dài, này các Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỷ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.
Vi-n 8 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này … vừa đủ để giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 15.5
- Chapter One
A Mountain
5. Kinh Núi
Sāvatthiyaṁ viharati …pe… ārāme …pe….
At Sāvatthī.
127. Tại Sāvatthī... Này các Tỷ-kheo, vòng luân hồi này không thể biết được khởi điểm. Khởi điểm ban đầu không thể được biết đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái kiết sử trói buộc, đang lang thang, luân hồi. Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào, cái nào nhiều hơn: sữa mẹ mà các ông đã uống, những người đang lang thang, luân hồi trong một thời gian dài này; hay là nước trong bốn biển lớn? Bạch Thế Tôn, theo như chúng con hiểu Pháp do Thế Tôn thuyết giảng, bạch Thế Tôn, chính điều này nhiều hơn: sữa mẹ mà chúng con đã uống, những người đang lang thang, luân hồi trong một thời gian dài này; chứ không phải là nước trong bốn biển lớn.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “kīvadīgho nu kho, bhante, kappo”ti?
“Dīgho kho, bhikkhu, kappo. So na sukaro saṅkhātuṁ ettakāni vassāni iti vā, ettakāni vassasatāni iti vā, ettakāni vassasahassāni iti vā, ettakāni vassasatasahassāni iti vā”ti.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and asked him, “Sir, how long is an eon?”
“Mendicant, an eon is long. It’s not easy to calculate how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.”
128. Tại Sāvatthī... trong tịnh xá. Khi ấy, một vị Tỷ-kheo đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, một kiếp dài bao lâu?’ ‘Này Tỷ-kheo, một kiếp thì dài. Không dễ để đếm được là ‘bấy nhiêu năm’, hay ‘bấy nhiêu trăm năm’, hay ‘bấy nhiêu ngàn năm’, hay ‘bấy nhiêu trăm ngàn năm’.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca.
“Seyyathāpi, bhikkhu, mahāselo pabbato yojanaṁ āyāmena yojanaṁ vitthārena yojanaṁ ubbedhena acchinno asusiro ekagghano. Tamenaṁ puriso vassasatassa vassasatassa accayena kāsikena vatthena sakiṁ sakiṁ parimajjeyya. Khippataraṁ kho so, bhikkhu, mahāselo pabbato iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva kappo. Evaṁ dīgho, bhikkhu, kappo. Evaṁ dīghānaṁ kho, bhikkhu, kappānaṁ neko kappo saṁsito, nekaṁ kappasataṁ saṁsitaṁ, nekaṁ kappasahassaṁ saṁsitaṁ, nekaṁ kappasatasahassaṁ saṁsitaṁ.
Taṁ kissa hetu? Anamataggoyaṁ, bhikkhu, saṁsāro. Pubbā koṭi …pe… yāvañcidaṁ, bhikkhu, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccitun”ti.
Pañcamaṁ.
“But sir, is it possible to give a simile?”
“It’s possible,” said the Buddha.
“Suppose there was a big rocky mountain, a league long, a league wide, and a league high, with no cracks or holes, one solid mass. And as each century passed someone would stroke it once with a fine cloth from Kāsi. By this means the big rocky mountain would be worn away before the eon comes to an end. That’s how long an eon is. And we’ve transmigrated through many such eons, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands.
Why is that? This transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
– Bạch Thế Tôn, có thể nào nêu lên ví dụ được không? – Này Tỳ khưu, có thể được. – Đức Thế Tôn nói. – Này Tỳ khưu, ví như có một tảng núi đá lớn, dài một do-tuần, rộng một do-tuần, cao một do-tuần, không có lỗ hổng, không có kẽ nứt, là một khối đặc. Rồi có một người, cứ mỗi một trăm năm lại đến dùng một tấm vải lụa xứ Kāsi lau qua một lần. Này Tỳ khưu, tảng núi đá lớn ấy do nỗ lực này mà có thể bị bào mòn, bị tiêu mất còn nhanh hơn, chứ một kiếp thì không. Này Tỳ khưu, một kiếp dài lâu đến như vậy. Này Tỳ khưu, đối với các kiếp dài lâu như vậy, chúng ta đã không chỉ luân chuyển một kiếp, không chỉ luân chuyển một trăm kiếp, không chỉ luân chuyển một ngàn kiếp, không chỉ luân chuyển một trăm ngàn kiếp. Vì sao vậy? Này Tỳ khưu, vòng luân hồi này là vô thủy. Khởi điểm ban đầu... ... Này Tỳ khưu, chừng ấy là đủ để nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, đủ để ly tham, đủ để giải thoát. (Kinh) thứ năm.