- Saṁyutta Nikāya 15.10
- 1. Paṭhamavagga
Bản dịch
SN 15.10 — Kinh Người
Puggalasutta
Vi-n 1 … Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Tại đấy Thế Tôn …
Vi-n 3 —Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo …
Vi-n 4 Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
Vi-n 5 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.
Vi-n 6 Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 15.10
- Chapter One
A Single Individual
10. Kinh Người
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
133. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: "Này các Tỳ khưu." "Bạch Thế Tôn," những Tỳ khưu ấy vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe… ekapuggalassa, bhikkhave, kappaṁ sandhāvato saṁsarato siyā evaṁ mahā aṭṭhikaṅkalo aṭṭhipuñjo aṭṭhirāsi yathāyaṁ vepullo pabbato, sace saṁhārako assa, sambhatañca na vinasseyya.
Taṁ kissa hetu? Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe… alaṁ vimuccitun”ti.
“Mendicants, this transmigration has no known beginning. … One individual roaming and transmigrating for an eon would amass a heap of bones the size of this Mount Vepulla, if they were gathered together and not lost.
Why is that? This transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
"Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này không có khởi điểm... (cho đến) ... Này các Tỳ khưu, xương của một người, trong một kiếp trôi lăn, lang thang, nếu có người thu gom lại và nếu những gì đã thu gom không bị hủy hoại, thì sẽ có một đống xương, một chồng xương, một núi xương lớn như núi Vepulla này. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này không có khởi điểm... (cho đến) ... đủ để giải thoát."
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này nữa:
“Ekassekena kappena, puggalassaṭṭhisañcayo; Siyā pabbatasamo rāsi, iti vuttaṁ mahesinā.
“If the bones of a single individual for a single eon were gathered up, they’d make a pile the size of a mountain: so said the great seer.
"Xương của một người trong một kiếp, tích tụ lại thành một đống lớn bằng ngọn núi, bậc Đại Sĩ đã nói như vậy."
So kho panāyaṁ akkhāto, vepullo pabbato mahā; Uttaro gijjhakūṭassa, magadhānaṁ giribbaje.
And this is declared to be as big as Mount Vepulla, higher than the Vulture’s Peak in the Mountainfold of the Magadhans.
"Ngọn núi Vepulla vĩ đại ấy được tuyên bố là ở phía bắc của núi Gijjhakūṭa, tại Giribbaja của người Magadha."
Yato ca ariyasaccāni, sammappaññāya passati; Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ, dukkhassa ca atikkamaṁ; Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ, dukkhūpasamagāminaṁ.
But then, with right understanding, one sees the noble truths—suffering, suffering’s origin, suffering’s transcendence, and the noble eightfold path that leads to the stilling of suffering.
"Và khi người ấy với chánh trí tuệ thấy được các Thánh đế: Khổ, sự tập khởi của khổ, sự vượt qua khổ, và con đường Thánh tám ngành đưa đến sự chấm dứt khổ."
Sa sattakkhattuṁparamaṁ, sandhāvitvāna puggalo; Dukkhassantakaro hoti, sabbasaṁyojanakkhayā”ti.
Dasamaṁ.
After roaming on seven times at most, that individual makes an end of suffering, with the ending of all fetters.”
"Người ấy, sau khi trôi lăn tối đa bảy lần nữa, sẽ chấm dứt khổ đau, do sự đoạn tận tất cả các kiết sử." Kinh thứ mười.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Phẩm thứ nhất.
Tiṇakaṭṭhañca pathavī, assu khīrañca pabbataṁ; Sāsapā sāvakā gaṅgā, daṇḍo ca puggalena cāti.
Cỏ và Gỗ, Đất, Nước Mắt và Sữa, và Núi; Hạt Cải, Các Đệ Tử, Sông Hằng, Cây Gậy và Người.