- Saṁyutta Nikāya 10.4
- 1. Indakavagga
Bản dịch
SN 10.4 — Kinh Maṇibhadda
Maṇibhaddasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Magadha, tại điện thờ Manimàlaka, tại một trú xứ của Dạ-xoa Manibhadda.
Vi-n 2 Rồi Dạ-xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Lành thay, thường chánh niệm,
Vi-n 3 (Thế Tôn):
Nhờ niệm, lạc tăng trưởng.
Có niệm, mai đẹp hơn,
Hận thù được giải thoát.Lành thay, thường chánh niệm,
Nhờ niệm, lạc tăng trưởng,
Có niệm, mai đẹp hơn,
Hận thù chưa giải thoát.
Với ai trọn ngày đêm,
Tâm ý lạc, bất hại,
Từ tâm mọi hữu tình,
Vị ấy không thù hận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 10.4
- 1. With Indaka
With Maṇibhadda
4. Kinh Maṇibhadda
Ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu viharati maṇimālike cetiye maṇibhaddassa yakkhassa bhavane.
Atha kho maṇibhaddo yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
At one time the Buddha was staying in the land of the Magadhans at the Maṇimālika Shrine, the haunt of the native spirit Maṇibhadda.
Then the native spirit Maṇibhadda went up to the Buddha, and spoke this verse in the Buddha’s presence:
238. Một thời Thế Tôn trú ở xứ Magadha, tại điện thờ Maṇimālika, trú xứ của dạ-xoa Maṇibhadda. Bấy giờ, dạ-xoa Maṇibhadda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã nói lên bài kệ này trước sự hiện diện của Thế Tôn:
“Satīmato sadā bhaddaṁ, satimā sukhamedhati; Satīmato suve seyyo, verā ca parimuccatī”ti.
“It’s always auspicious for the mindful; the mindful prosper in happiness. Each new day is better for the mindful, and they are freed from enmity.”
“Người có chánh niệm luôn được tốt lành, người có chánh niệm đạt được an lạc. Đối với người có chánh niệm, ngày mai tốt đẹp hơn, và người ấy thoát khỏi mọi hận thù.”
“Satīmato sadā bhaddaṁ, satimā sukhamedhati; Satīmato suve seyyo, verā na parimuccati.
“It’s always auspicious for the mindful; the mindful prosper in happiness. Each new day is better for the mindful, but they’re not freed from enmity.
“Người có chánh niệm luôn được tốt lành, người có chánh niệm đạt được an lạc. Đối với người có chánh niệm, ngày mai tốt đẹp hơn, nhưng chưa thoát khỏi hận thù.
Yassa sabbamahorattaṁ, ahiṁsāya rato mano; Mettaṁso sabbabhūtesu, veraṁ tassa na kenacī”ti.
But someone whose mind delights in harmlessness, all day and all night, with love for all living creatures—they have no enmity for anyone.”
“Người nào mà tâm ý suốt cả ngày đêm vui thích trong sự bất hại, người ấy có lòng từ đối với tất cả chúng sanh, thì không có hận thù với bất cứ ai.”