- Saṁyutta Nikāya 10.2
- 1. Indakavagga
Bản dịch
SN 10.2 — Kinh Sakkanāma
Sakkanāmasutta
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá) trên núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Rồi Dạ-xoa tên Sakka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những bài kệ với Thế Tôn:
Thật không tốt lành gì,
Vi-n 3 (Thế Tôn):
Một Sa-môn như Ngài,
Ðã đoạn mọi triền phược,
Ðã sống chơn giải thoát,
Lại tiếp tục giảng dạy,
Những kẻ khác tu học.Này Dạ-xoa Sakka,
Dầu vì lý do gì,
Loài Người sống chung nhau,
Không một lý do nào,
Xứng đáng bậc trí tuệ,
Với lòng từ lân mẫn,
Nếu với tâm tín thành,
Giảng dạy những người khác,
Do vậy không hệ lụy,
Vì lòng từ lân mẫn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 10.2
- 1. With Indaka
Sakka In Name Only
2. Kinh Sakkanāma
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho sakkanāmako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
Then a spirit who was Sakka in name only went up to the Buddha, and addressed him in verse:
236. Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Bấy giờ, dạ-xoa tên là Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã bạch hỏi Thế Tôn bằng một bài kệ:
“Sabbaganthappahīnassa, vippamuttassa te sato; Samaṇassa na taṁ sādhu, yadaññamanusāsasī”ti.
“You’ve given up all ties, and are fully freed. It’s not a good idea for you, ascetic, to be instructing others.”
“Đối với ngài, một vị Sa-môn đã từ bỏ mọi ràng buộc, đã hoàn toàn giải thoát, và có chánh niệm, việc ngài giáo huấn người khác là không tốt đẹp.”
“Yena kenaci vaṇṇena, saṁvāso sakka jāyati; Na taṁ arahati sappañño, manasā anukampituṁ.
“No matter how you explain why people gather together, Sakka, it’s unworthy for a wise person not to think of the other with sympathy.
“Này Sakka, nếu sự chung sống sanh khởi vì bất cứ lý do nào, người có trí không nên khởi tâm thương xót người ấy.
Manasā ce pasannena, yadaññamanusāsati; Na tena hoti saṁyutto, yānukampā anuddayā”ti.
If you instruct others with a mind clear and confident, your compassion and empathy don’t create attachments.”
“Nếu với tâm thanh tịnh mà giáo huấn người khác, người ấy không bị ràng buộc bởi điều đó, vì đó là lòng bi mẫn và thương xót.”