- Saṁyutta Nikāya 10.10
- 1. Indakavagga
Bản dịch
SN 10.10 — Kinh Sukkā thứ hai
Dutiyasukkāsutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một người cư sĩ đang cúng dường đồ ăn cho Tỷ-kheo-ni Sukkà.
Vi-n 3 Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, đi từ ngã ba này ba khác ở Rājagaha, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Cư sĩ có trí này,
Chắc hưởng nhiều công đức,
Ðã cúng dường món ăn,
Dâng cúng lên Sukkà,
Một vị đã giải thoát,
Tất cả mọi triền phược.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 10.10
- 1. With Indaka
With the Nun Sukkā (2nd)
10. Kinh Sukkā thứ hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena aññataro upāsako sukkāya bhikkhuniyā bhojanaṁ adāsi. Atha kho sukkāya bhikkhuniyā abhippasanno yakkho rājagahe rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time a certain lay follower gave food to the nun Sukkā. Then a native spirit was so devoted to Sukkā that he went from street to street and from square to square, and on that occasion recited these verses:
244. Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc ấy, một nam cư sĩ nào đó đã dâng cúng vật thực đến tỳ-khưu-ni Sukkā. Bấy giờ, một dạ-xoa rất có thiện cảm với tỳ-khưu-ni Sukkā, đi đến từng con đường, từng ngã tư ở Rājagaha, và vào lúc ấy đã đọc lên câu kệ này:
“Puññaṁ vata pasavi bahuṁ, Sappañño vatāyaṁ upāsako; Yo sukkāya adāsi bhojanaṁ, Sabbaganthehi vippamuttiyā”ti.
“O! He has made so much merit! That lay follower is so very wise. He just gave food to Sukkā, who is released from all ties.”
“Thật vậy, vị nam cư sĩ này đã tạo ra nhiều phước báu, thật là người có trí tuệ, người đã dâng cúng vật thực đến Sukkā, vị đã giải thoát khỏi mọi trói buộc.”