- Saṁyutta Nikāya 1.2
- 1. Naḷavagga
Bản dịch
SN 1.2 — Kinh Giải Thoát
Nimokkhasutta
… Ở Sāvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
—Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
—Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 1.2
- 1. A Reed
Liberation
2. Kinh Giải Thoát
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:
At Sāvatthī.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
2. Nhân duyên ở Sāvatthī. Bấy giờ, có một vị thiên, vào lúc đêm đã khuya, với dung sắc thù thắng, làm sáng rực toàn thể Jetavana, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị thiên ấy bạch với Thế Tôn lời này:
‘Thưa hiền giả, ngài có biết sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viễn ly cho các chúng sanh không?’
“Jānāmi khvāhaṁ, āvuso, sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.
“I do, good sir.”
‘Này hiền hữu, ta biết sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viễn ly cho các chúng sanh.’
“Yathākathaṁ pana tvaṁ, mārisa, jānāsi sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti?
“But how is it that you know the liberation, emancipation, and seclusion of sentient beings?”
‘Thưa hiền giả, nhưng làm thế nào ngài biết sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viễn ly cho các chúng sanh?’
“Nandībhavaparikkhayā, Saññāviññāṇasaṅkhayā; Vedanānaṁ nirodhā upasamā, Evaṁ khvāhaṁ āvuso jānāmi; Sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.
“Due to the ending of relish for rebirth; due to the finishing of perception and consciousness; due to the cessation and stilling of feelings—that, respectable sir, is how I know the liberation, emancipation, and seclusion of sentient beings.”
‘Do sự đoạn tận của hỷ hữu, do sự tiêu diệt của tưởng và thức, do sự diệt và an tịnh của các thọ – này hiền hữu, chính như vậy ta biết sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viễn ly cho các chúng sanh.’