Bản dịch
PV 4 — Chuyện Ngạ Quỷ Hình Nộm Bằng Bột
4. Piṭṭhadhītalikapetavatthu
BJT 10Sau khi liên tưởng đến đối tượng nào đó, người không bỏn xẻn nên dâng cúng vật thí hồi hướng đến các người đã quá vãng trước đây, hoặc đến các Thiên nhân ở khu đất, …
BJT 11… và đến bốn vị Đại Vương có danh tiếng là những bậc hộ trì thế giới: Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha, và Virūḷhaka. Và khi các vị ấy được cúng dường thì các thí chủ không phải là không có quả báo.
BJT 12Sự khóc lóc, và sầu muộn, hay sự than vãn khác là không nên, bởi vì điều ấy không đem lại lợi ích cho người đã quá vãng, (cho dầu) các thân quyến duy trì (hành động) như vậy.
BJT 13Và thêm nữa, việc cúng dường này được dâng cúng, được khéo thiết lập ở Hội Chúng, thì lập tức thành tựu lợi ích dài lâu cho người đã quá vãng ấy.
Chuyện Ngạ Quỷ Hình Nộm Bằng Bột là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Piṭṭhadhītalikapetavatthu
4. The Story of the Peta of the Dough Figurine
4. Chuyện Ngạ Quỷ Búp Bê Bằng Bột
10.
10.
10.
‘‘Yaṃ kiñcārammaṇaṃ katvā, dajjā dānaṃ amaccharī;
Pubbapete ca ārabbha, atha vā vatthudevatā.
“Having made anything whatever an object of mind, a donor who is not stingy should give a gift, whether with departed ancestors in mind, or the deities of the dwelling.
“Người không keo kiệt nên làm việc bố thí, sau khi đã lấy bất cứ đối tượng nào làm duyên cớ, hoặc là nhắm đến các vong nhân đã quá vãng, hoặc là các vị thần ở trú xứ.
11.
11.
11.
‘‘Cattāro ca mahārāje, lokapāle yasassine †;
Kuveraṃ dhataraṭṭhañca, virūpakkhaṃ virūḷhakaṃ;
Te ceva pūjitā honti, dāyakā ca anipphalā.
“Or the four great kings, the glorious guardians of the world: Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha, and Virūḷhaka. They are thus honored, and the donors are not without fruit.
“Và bốn vị Đại Vương, những vị Hộ Thế có danh tiếng là Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha, và Virūḷhaka. Chính các vị ấy được cúng dường, và những người thí chủ cũng không phải là không có kết quả.
12.
12.
12.
‘‘Na hi ruṇṇaṃ vā soko vā, yā caññā paridevanā;
Na taṃ petassa atthāya, evaṃ tiṭṭhanti ñātayo.
“For neither weeping, nor sorrow, nor any other lamentation is of benefit to the departed; their relatives just stand there grieving.
“Vì rằng sự khóc lóc, hay sầu muộn, hay sự than van nào khác không đem lại lợi ích cho người đã chết. Thân quyến (chỉ biết) đứng như thế ấy (mà than khóc).
13.
13.
13.
‘‘Ayañca kho dakkhiṇā dinnā, saṅghamhi suppatiṭṭhitā;
Dīgharattaṃ hitāyassa, ṭhānaso upakappatī’’ti.
“But this offering, given and well-established in the Saṅgha, is for that one’s welfare for a long time; it becomes beneficial instantly.”
“Và sự cúng dường này được dâng lên, được khéo đặt vào chư Tăng, là vì sự lợi ích lâu dài cho người ấy (ngạ quỷ), và có hiệu quả ngay lập tức.”
Piṭṭhadhītalikapetavatthu catutthaṃ.
The Fourth Story of the Peta of the Dough Figurine.
Dứt chuyện Ngạ Quỷ Búp Bê Bằng Bột, là chuyện thứ tư.