- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Sekhiyakaṇḍa
- Kabaḷavagga
Bản dịch
Bu Vb Sk 49 — Chúng học 49
49. Jivhānicchārakasikkhāpada
Inda-bh 1Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thọ thực có sự le lưỡi. … (như trên) …
“‘Ta sẽ không thọ thực có sự le lưỡi’ là việc học tập nên được thực hành.”
Inda-bh 2Không nên thọ thực có sự le lưỡi. Vị nào thọ thực có sự le lưỡi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 3Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on training
- The subchapter on mouthfuls
49. Sticking out the tongue
Origin story
Phần Sekhiya (Ưng học pháp) đã kết thúc.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū jivhānicchārakaṁ bhuñjanti …pe….
“Na jivhānicchārakaṁ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā”ti.
Na jivhānicchārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Yo anādariyaṁ paṭicca jivhānicchārakaṁ bhuñjati, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—asañcicca …pe… ādikammikassāti.
Navamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks from the group of six ate sticking out their tongues. …
Final ruling
“‘I will not eat sticking out my tongue,’ this is how you should train.”
One should not eat sticking out one’s tongue. If a monk, out of disrespect, eats sticking out his tongue, he commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense: if it is unintentional; if he is not mindful; if he does not know; if he is sick; if there is an emergency; if he is insane; if he is the first offender.
The ninth training rule is finished.
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, Sāḷha là cháu của Migāra có ý muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Khi ấy, Sāḷha là cháu của Migāra sau khi đi đến các tỳ khưu ni đã nói lên điều này: ‘Thưa các sư cô, tôi muốn xây dựng một ngôi trú xá cho chúng tỳ khưu ni. Xin quý vị hãy cử cho tôi một vị tỳ khưu ni trông coi công việc mới.’ Vào lúc bấy giờ, có bốn chị em đã xuất gia trong hàng tỳ khưu ni là Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā, và Thullanandā. Trong số ấy, tỳ khưu ni Sundarīnandā đã xuất gia khi còn trẻ, có dung sắc xinh đẹp, đáng ưa nhìn, đáng mến; là người có trí tuệ, sáng suốt, thông minh, khéo léo, không biếng nhác, và được hội đủ sự thẩm xét thích hợp trong các công việc ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp đặt. Khi ấy, chúng tỳ khưu ni sau khi chỉ định tỳ khưu ni Sundarīnandā đã giao cho Sāḷha là cháu của Migāra việc trông coi công việc mới. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Sundarīnandā thường xuyên đi đến nhà của Sāḷha là cháu của Migāra (và nói): ‘Hãy cho cái bào, hãy cho cái búa lưỡi vòm, hãy cho cái rìu, hãy cho cái cuốc, hãy cho cái đục.’ Và Sāḷha là cháu của Migāra cũng thường xuyên đi đến trú xá của tỳ khưu ni để xem xét việc đã làm và chưa làm. Do việc gặp gỡ thường xuyên, hai người họ đã có tâm quyến luyến.