- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Pārājikakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Pj 1 — Điều pārājika thứ nhất
1. Paṭhamapārājikasikkhāpada
CHƯƠNG VERAÑJĀ:
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của Dạ-xoa Naḷeru, cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Vị Bà-la-môn Verañja đã nghe được rằng: “Chắn chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, và hiện ngự tại Verañjā, ở cội cây Nimba của Dạ-xoa Naḷeru, cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Tiếng tăm tốt đẹp về Ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Vị ấy giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”
Inda-bh 2~2Sau đó, Bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Thưa Ngài Gotama, tôi đã được nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị Bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời.’ Thưa Ngài Gotama, điều ấy thật đúng như thế! Bởi vì Ngài Gotama không cung kính, hoặc không đứng dậy, hoặc không mời chỗ ngồi đến các vị Bà-la-môn già cả, uy tín, lớn tuổi, sống thọ, đã đạt đến giai đoạn cuối của cuộc đời. Thưa Ngài Gotama, điều ấy thật không thích đáng!”
Inda-bh 3~3—“Này Bà-la-môn, trong thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Ta không thấy một ai mà Ta có thể cung kính, hoặc có thể đứng dậy, hoặc có thể mời chỗ ngồi. Này Bà-la-môn, bởi vì nếu Như Lai cung kính, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi người nào thì đầu của người ấy sẽ bị vỡ tan.”
Inda-bh 4~4—“Ngài Gotama không biết về phẩm chất!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết về phẩm chất.’ Này Bà-la-môn, các phẩm chất về sắc, các phẩm chất về thinh, các phẩm chất về hương, các phẩm chất về vị, các phẩm chất về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết về phẩm chất;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 5~5—“Ngài Gotama không biết thưởng thức!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết thưởng thức.’ Này Bà-la-môn, các sự thưởng thức về sắc, các sự thưởng thức về thinh, các sự thưởng thức về hương, các sự thưởng thức về vị, các sự thưởng thức về xúc, đối với Như Lai các việc ấy đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama không biết thưởng thức;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 6~6—“Ngài Gotama thuyết về không hành động!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về không hành động.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về không hành động đối với việc làm ác do thân, đối với lời nói ác do miệng, đối với suy nghĩ ác do ý; Ta thuyết về không hành động của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về không hành động;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 7~7—“Ngài Gotama thuyết về đoạn diệt!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về đoạn diệt.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về sự đoạn diệt của luyến ái, của sân hận, của si mê; Ta thuyết về sự đoạn diệt của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama thuyết về đoạn diệt;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 8~8—“Ngài Gotama có sự ghê tởm!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama có sự ghê tởm.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta ghê tởm với việc làm ác do thân, với lời nói ác do miệng, với suy nghĩ ác do ý; Ta ghê tởm đối với sự thành tựu của các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama có sự ghê tởm;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 9~9—“Ngài Gotama là người cách ly!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly.’ Này Bà-la-môn, bởi vì Ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với luyến ái, đối với sân, đối với si; Ta thuyết về pháp đưa đến sự cách ly đối với các pháp ác và bất thiện có nhiều dạng. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 10~10—“Ngài Gotama là người thiêu đốt!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt.’ Này Bà-la-môn, Ta thuyết rằng các pháp ác và bất thiện tức là việc làm ác do thân, lời nói ác do miệng, và suy nghĩ ác do ý cần được thiêu đốt. Này Bà-la-môn, người nào có các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; Ta gọi người ấy là: ‘Người thiêu đốt.’ Này Bà-la-môn, các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt của Như Lai đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.”
Inda-bh 11~11—“Ngài Gotama là người thoát khỏi bào thai!”—“Này Bà-la-môn, thật sự có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai.’ Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; Ta gọi người ấy là: ‘Người thoát khỏi bào thai.’ Này Bà-la-môn, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của Như Lai, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được dứt bỏ, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, thật sự đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về Ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai;’ và chắc chắn rằng ông không liên tưởng đến ý nghĩa ấy khi nói ra.
Inda-bh 12~12Này Bà-la-môn, cũng giống như con gà mái có được tám, hoặc mười, hoặc mười hai quả trứng. Nếu con gà mái nằm lên trên chúng đúng cách, ủ nóng đều đúng cách, ấp đúng cách, và trong số các con gà con mới nở ấy, con nào dùng vuốt của móng chân hoặc mỏ phá vỡ vỏ trứng và nở ra an toàn trước tiên, thì điều nên nói về con gà con ấy là thế nào, lớn nhất hay nhỏ nhất?”—“Thưa Ngài Gotama, nên gọi nó là ‘con lớn nhất’ bởi vì nó lớn nhất trong bầy.”—“Này Bà-la-môn, cũng tương tợ như thế trong số chúng sanh sống trong vô minh (ví như) đang ở trong quả trứng và bị trùm kín lại, Ta là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh và chứng đắc quả vị Chánh Đẳng Giác vô thượng ở trên đời. Này Bà-la-môn, chính Ta đây là người đứng đầu và cao cả nhất của thế gian.
Inda-bh 13~13Này Bà-la-môn, hơn nữa Ta đã có sự tinh tấn bền vững không bị trì trệ, có niệm được thiết lập không bị xao lãng, có thân được khinh an không còn rạo rực, có tâm được định tĩnh tập trung. Này Bà-la-môn, quả vậy sau khi đã tách ly khỏi các dục và tách ly khỏi các pháp bất thiện, Ta đây đã chứng đạt và trú thiền thứ nhất với hỷ và lạc sanh lên do tách ly (khỏi các triền cái), có tầm, có tứ. Do sự yên lặng của tầm và tứ, Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ hai với nội phần an tĩnh, tâm được chuyên nhất, có hỷ và lạc sanh lên do định, không tầm, không tứ. Và do sự không còn tham muốn ở hỷ, với xả Ta đã trú. Có niệm và tỉnh giác, Ta đã chứng nghiệm trạng thái lạc bằng thân, đó là điều mà các bậc Thánh nói rằng: ‘Vị ấy có xả, có niệm, có sự trú vào lạc;’ Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ ba. Do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ (của thân), do sự biến mất của hỷ và ưu ở tâm (đã có) trước đây, Ta đã chứng đạt và trú thiền thứ tư với sự thanh tịnh của xả và niệm, không khổ không lạc.
Inda-bh 14~14Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ ghi nhớ về các kiếp sống trước. Ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Ở nơi ấy, Ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, Ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại chỗ kia. Ở nơi kia, Ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ nơi kia, Ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, Ta nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét đại cương và cá biệt. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh đầu của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ nhất này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở đầu tiên của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.
Inda-bh 15~15Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí về sự sanh tử của chúng sanh. Bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ta đây nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, Ta biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng (như vầy):
‘Quả đúng như vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động xấu xa bằng thân, có hành động xấu xa bằng lời nói, có suy nghĩ xấu xa bằng ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành các hành động do tà kiến. Những kẻ ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có hành động tốt đẹp bằng thân, có hành động tốt đẹp bằng lời nói, có suy nghĩ tốt đẹp bằng ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành các hành động do chánh kiến. Những người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi trời, loài người.’ Như thế, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ta nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ, Ta biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh giữa của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ hai này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ hai của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.
Inda-bh 16~16Trong khi tâm được định tĩnh, thuần tịnh, trong sạch, không ô nhiễm, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc như thế, Ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là nguyên nhân của Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự Diệt Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự Diệt Khổ’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Ta đây đã biết rõ: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc’ đúng theo bản thể thật. Trong khi Ta đây biết được như thế, thấy được như thế, thì tâm cũng đã được giải thoát khỏi dục lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã được giải thoát, trí của Ta đây đã khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Và Ta đã biết rõ rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác cho việc (giải thoát) này nữa.’ Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh cuối của đêm Ta đã chứng đạt Minh thứ ba này, vô minh được diệt tận, minh được sanh khởi, bóng tối được diệt tận, ánh sáng được sanh khởi. Như thế ấy là điều (Ta đã thành đạt) trong lúc Ta sống không xao lãng, nỗ lực, quyết tâm. Này Bà-la-môn, chính điều này đã là sự khai mở thứ ba của Ta, tương tợ như con gà con thoát ra từ vỏ trứng vậy.”
Inda-bh 17~17Khi được nói như thế, Bà-la-môn Verañja đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Ngài Gotama là vị đứng đầu, Ngài Gotama là người cao cả nhất. Bạch Ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài Gotama, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài Gotama, cũng giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hoặc đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được Ngài Gotama giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Tôi đây đi đến nương nhờ Ngài Gotama, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin Ngài Gotama chấp nhận tôi là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Xin Ngài Gotama hãy nhận lời tôi về việc cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với hội chúng tỳ khưu.”
Inda-bh 18~18Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn, Bà-la-môn Verañja đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 19~19Vào lúc bấy giờ, xứ Verañjā có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Vào lúc bấy giờ, có những người buôn ngựa từ xứ Uttarāpatha đã đến cư trú mùa mưa ở Verañjā cùng với năm trăm con ngựa. Ở các bãi nhốt ngựa, họ có chuẩn bị từng phần lúa mạch cho các vị tỳ khưu. Vào buổi sáng, các vị tỳ khưu mặc y cầm y bát rồi đi vào trong thành Verañjā để khất thực. Khi không nhận được đồ ăn khất thực, các vị đi đến khất thực ở các bãi nhốt ngựa và mang về tu viện (mỗi vị) một phần lúa mạch. Các vị giã đi giã lại trong cối giã rồi thọ dụng. Đại đức Ānanda nghiền phần lúa mạch ở tảng đá rồi dâng lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thọ dụng thức ấy.
Inda-bh 20~20Quả vậy, đức Thế Tôn đã nghe tiếng cối giã. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích. Khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, tiếng cối giã ấy là gì vậy?” Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, tốt lắm! Tốt lắm! Này Ānanda, (điều ấy) đã được khắc phục bởi các ngươi là những người hoàn thiện. Về sau này, con người sẽ chê bai cơm gạo sāli và thịt.”
Inda-bh 21~21Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch Ngài, hiện nay Verañjā có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Bạch Ngài, bề mặt bên dưới của đại địa cầu này có chất như là mật ong, không cặn bã, và có hương vị y như thế. Bạch Ngài, thật tốt thay nếu con lật ngửa quả địa cầu ra (để rồi) các tỳ khưu sẽ thọ dụng chất bổ dưỡng (ấy).”
—“Này Moggallāna, còn các chúng sanh sống ở quả địa cầu thì ngươi sẽ giải quyết thế nào?”
—“Bạch Ngài, con sẽ biến hoá một bàn tay trở thành giống như đại địa cầu và sẽ di chuyển chúng sanh sống ở quả địa cầu đến đó, rồi con sẽ lật ngửa quả địa cầu ra bằng cánh tay kia.”
—“Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú để lật ngửa quả địa cầu ra nữa khiến chúng sanh sẽ phải gánh chịu sự xáo trộn.”
—“Bạch Ngài, thật tốt thay nếu tất cả hội chúng tỳ khưu có thể đi đến Uttarakuru để khất thực.”
—“Này Moggallāna, thôi đi. Ngươi chớ thích thú đến việc đi đến Uttarakuru để khất thực của toàn bộ hội chúng tỳ khưu nữa.”
Inda-bh 22~22Khi ấy, đại đức Sāriputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: “Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”
Inda-bh 23~23Sau đó vào lúc chiều tối, đại đức Sāriputta khi xuất khỏi thiền tịnh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch Ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: ‘Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?’
Inda-bh 24~24Bạch Ngài, vậy thì Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh thời chư Phật Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?”
—“Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài. Này Sāriputta, Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.”
Inda-bh 25~25—“Bạch Ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài?”
Inda-bh 26~26—“Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã không ra sức để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có ít suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ. Điều học cho các đệ tử đã không được quy định và giới bổn Pātimokkha đã không được công bố.
Inda-bh 27~27Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) làm phân tán, làm tung toé, và hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) không được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, này Sāriputta tương tợ y như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã khiến cho Phạm hạnh ấy biến mất thật nhanh chóng.
Inda-bh 28~28Và chư Phật Thế Tôn ấy (chỉ) ra sức dùng tâm biết được tâm để giáo huấn các đệ tử. Này Sāriputta, trong thời quá khứ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū, ở trong khu rừng ghê rợn nọ, dùng tâm biết được tâm rồi giáo huấn và chỉ dạy hội chúng tỳ khưu một ngàn vị rằng: ‘Hãy suy tầm như vầy. Chớ suy tầm như thế. Hãy tác ý như vầy. Chớ tác ý như thế. Hãy từ bỏ điều này. Hãy thành tựu rồi an trú điều này.’ Này Sāriputta, khi ấy trong lúc được đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Vessabhū giáo huấn như thế chỉ dạy như thế, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này Sāriputta, vào trường hợp ấy trong khi đã bị kinh sợ đối với khu rừng ghê rợn, người nào chưa dứt bỏ ái dục đi vào khu rừng ấy thì hầu hết các sợi lông sẽ dựng đứng lên.
Inda-bh 29~29Này Sāriputta, đây là nhân đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Vipassī, thời đức Thế Tôn Sikhī, và thời đức Thế Tôn Vessabhū đã không tồn tại lâu dài.”
Inda-bh 30~30—“Bạch Ngài, vậy do nhân gì, do duyên gì khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài?”
Inda-bh 31~31—“Này Sāriputta, đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế Tôn Konāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã ra sức để thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết đến các đệ tử và các vị ấy đã có nhiều suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhūtadhammaṁ, vedallaṁ. Điều học cho các Thinh Văn đã được quy định và giới bổn Pātimokkha đã được công bố.
Inda-bh 32~32Với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu. Này Sāriputta, cũng giống như nhiều bông hoa khác nhau được đặt xuống ở trên tấm ván sàn và được kết lại với nhau bằng sợi chỉ, cơn gió (sẽ) không làm tản mác, không làm tung toé, và không hủy hoại chúng. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Này Sāriputta, giống như việc (các bông hoa) được kết lại với nhau bằng sợi chỉ; này Sāriputta tương tợ như thế với sự tịch diệt của chư Phật Thế Tôn ấy, với sự tịch diệt của các Thinh Văn đã được giác ngộ theo chư Phật (ấy), các vị đệ tử về sau này có tên khác nhau, có dòng họ khác nhau, có giai cấp khác nhau, từ gia tộc khác nhau đã xuất gia, các vị ấy đã duy trì Phạm hạnh ấy lâu dài và trường cửu.
Inda-bh 33~33Này Sāriputta, đây là nhân, đây là duyên khiến Phạm hạnh thời đức Thế Tôn Kakusandha, thời đức Thế Tôn Konāgamana, và thời đức Thế Tôn Kassapa đã tồn tại lâu dài.”
Inda-bh 34~34Sau đó, đại đức Sāriputta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch đức Thế Tôn, nay là thời điểm của việc ấy. Bạch đấng Thiện Thệ, nay là thời điểm của việc ấy, (tức là thời điểm) đức Thế Tôn nên quy định điều học cho các đệ tử, nên công bố giới bổn Pātimokkha; như thế Phạm hạnh này có thể được tiếp tục và tồn tại lâu dài.”
Inda-bh 35~35—“Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Này Sāriputta, ngươi hãy chờ đợi! Trong trường hợp ấy, chỉ có Như Lai mới biết thời điểm. Này Sāriputta, cho đến khi nào ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng thì cho đến khi ấy bậc Đạo Sư chưa quy định điều học cho các đệ tử và chưa công bố giới bổn Pātimokkha. Này Sāriputta, chính bởi vì ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.
Inda-bh 36~36Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về số lượng thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự đông đảo về số lượng nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.
Inda-bh 37~37Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc phát triển nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.
Inda-bh 38~38Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự dồi dào về lợi lộc thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự dồi dào về lợi lộc nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.
Inda-bh 39~39Này Sāriputta, cho đến khi nào hội chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều thì cho đến khi ấy ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc chưa xuất hiện ở hội chúng. Này Sāriputta, chính bởi vì hội chúng đạt đến sự lớn mạnh về việc học nhiều nên ở đây một số pháp đưa đến lậu hoặc xuất hiện ở hội chúng, nên bậc Đạo Sư quy định điều học cho các đệ tử và công bố giới bổn Pātimokkha nhằm diệt trừ chính các pháp đưa đến lậu hoặc ấy.
Inda-bh 40~40Này Sāriputta, bởi vì hội chúng tỳ khưu không có ô nhiễm, không có tội lỗi, có ác pháp đã lìa, được trong sạch, đã an trú vào mục đích. Này Sāriputta, bởi vì trong số năm trăm tỳ khưu này, vị tỳ khưu thấp nhất (đã) là vị Nhập Lưu, không còn pháp bị đọa, được bền vững, và hướng đến sự giác ngộ.”
Inda-bh 41~41Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, điều này quả nhiên đã trở thành thông lệ của các đấng Như Lai là khi các vị cư trú mùa mưa do những ai đã thỉnh mời thì các vị không ra đi du hành trong xứ sở khi chưa thông báo cho những người ấy. Này Ānanda, chúng ta sẽ thông báo cho Bà-la-môn Verañja này.”—“Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda đã đáp lời đức Thế Tôn.
Inda-bh 42~42Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát cùng với đại đức Ānanda là Sa-môn thị giả đi đến tư gia của Bà-la-môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 43~43Khi ấy, Bà-la-môn Verañja đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với Bà-la-môn Verañja đang ngồi một bên điều này:—“Này Bà-la-môn, được ông thỉnh mời chúng tôi đã trú qua mùa mưa. Giờ chúng tôi thông báo ông rằng chúng tôi muốn ra đi du hành trong xứ sở.”
Inda-bh 44~44—“Bạch Ngài Gotama, sự thật là các vị đã được tôi thỉnh mời và đã trú qua mùa mưa. Tuy nhiên, việc cúng dường là chưa được dâng cúng. Và điều ấy quả không phải là không có vật bố thí, cũng không phải là không có lòng bố thí. Trong trường hợp này làm sao có thể đạt được điều ấy? Bởi vì cuộc sống tại gia có nhiều phận sự và có nhiều việc cần phải làm. Xin Ngài Gotama nhận lời buổi trai phạn của tôi vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 45~45Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Inda-bh 46~46Sau đó, khi trải qua đêm ấy Bà-la-môn Verañja đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng:—“Bạch Ngài Gotama, đã đến giờ. Thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Inda-bh 47~47Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y bát đi đến tư gia của Bà-la-môn Verañja, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, Bà-la-môn Verañja đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời bình bát, Bà-la-môn Verañja đã choàng lên đức Thế Tôn với ba y và đã choàng lên mỗi một vị tỳ khưu với một xấp vải đôi. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Bà-la-môn Verañja bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Inda-bh 48~48Sau đó, khi đã ngụ tại Verañjā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã đi dọc theo Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, và đến được bến đò Payāga. Sau khi đến nơi, Ngài đã vượt qua sông Gaṅgā tại bến đò Payāga và đã ngự đến thành Bārāṇasī. Sau đó, khi đã ngụ tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, Ngài đã ngự đến thành Vesālī. Tại nơi ấy, trong thành Vesālī, đức Thế Tôn ngụ tại Mahāvana, nơi giảng đường Kūṭāgāra.
Dứt tụng phẩm Verañjā.
1. ĐIỀU PĀRĀJIKA THỨ NHẤT:
(Ở đây, bốn điều Pārājika này được đưa ra đọc tụng)
Inda-bh 1~49Vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Vesālī có ngôi làng tên là Kalanda. Ở nơi ấy, có người con trai nhà đại phú tên là Sudinna Kalandaputta. Khi ấy, Sudinna Kalandaputta đã đi đến Vesālī cùng với nhiều người bạn vì công việc cần làm nào đó. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, được vây quanh bởi hội chúng đông đảo, đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp.
Inda-bh 2~50Sudinna Kalandaputta đã nhìn thấy đức Thế Tôn được vây quanh bởi hội chúng đông đảo đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp. Sau khi nhìn thấy, anh ta đã khởi ý điều này: “Hay là ta cũng nên nghe Pháp?” Khi ấy, Sudinna Kalandaputta đã đi đến gần hội chúng ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã khởi ý điều này: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà?”
Inda-bh 3~51Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, hội chúng ấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi.
Inda-bh 4~52Sau đó, khi hội chúng đã đứng dậy không bao lâu, Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch Ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Bạch Ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Xin đức Thế Tôn hãy (làm lễ) xuất gia cho con.”
—“Này Sudinna, vậy ngươi đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà chưa?”
—“Bạch Ngài, con chưa được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này Sudinna, các đức Như Lai không (làm lễ) xuất gia cho người con trai chưa được mẹ và cha cho phép.”
—“Bạch Ngài, bằng cách nào khiến mẹ và cha sẽ cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà thì con đây sẽ làm theo cách ấy.”
Inda-bh 5~53Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī, Sudinna Kalandaputta đã đi về lại làng Kalanda đến gặp mẹ và cha, sau khi đến đã nói với mẹ và cha điều này:—“Mẹ và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như thế, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”
Inda-bh 6~54Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã nói với mẹ và cha điều này:—“Mẹ và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc này không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Đến lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”
Inda-bh 7~55Khi ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Mẹ và cha không cho phép ta về việc rời nhà xuất gia sống không nhà!” rồi đã nằm xuống ngay tại chỗ ấy, ở trên nền đất không có trải lót (nói rằng):—“Đối với tôi, hoặc là sẽ xảy ra cái chết ngay tại nơi đây, hoặc là sự xuất gia.” Sau đó, Sudinna Kalandaputta đã không ăn một bữa, đã không ăn hai bữa, đã không ăn ba bữa, đã không ăn bốn bữa, đã không ăn năm bữa, đã không ăn sáu bữa, đã không ăn bảy bữa.
Inda-bh 8~56Khi ấy, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng. Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
Inda-bh 9~57Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna mến, bạn chính là con trai một, yêu dấu, quý mến của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna mến, bạn không biết bất cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha đành phải xa bạn một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc bạn đang còn sống mẹ và cha lại cho phép bạn về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna mến, bạn hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, bạn có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép bạn về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng. Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna thương, bạn chính là … (như trên) … Đến lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
Inda-bh 10~58Khi ấy, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta điều này:—“Mẹ và cha à, Sudinna này nằm trên nền đất không có trải lót (nói rằng): ‘Đối với tôi, hoặc là sẽ xảy ra cái chết ngay tại đây, hoặc là sự xuất gia.’ Nếu mẹ và cha không cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà, anh ta sẽ đi đến cái chết ngay tại chỗ ấy. Vả lại, nếu mẹ và cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà, mẹ và cha sẽ còn nhìn thấy anh ta cho dù đã xuất gia. Nếu Sudinna không thỏa thích trong việc rời nhà xuất gia sống không nhà, thì còn chốn nào khác cho anh ta đây? Anh ta sẽ quay trở về ngay tại chỗ này. Mẹ và cha hãy cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà đi.”—“Các con thương, mẹ và cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta điều này:—“Này Sudinna mến, hãy đứng dậy đi. Bạn đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.”
Inda-bh 11~59Khi ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Nghe nói ta đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà” nên mừng rỡ phấn chấn, vừa đứng dậy vừa dùng bàn tay phủi khắp mình mẩy. Sau đó nhiều ngày, Sudinna Kalandaputta đã phục hồi lại sức khoẻ và đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch Ngài, con đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy (làm lễ) xuất gia cho con.” Rồi Sudinna Kalandaputta đã đạt được sự xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn, đã đạt được sự tu lên bậc trên. Khi đã được tu lên bậc trên không bao lâu, đại đức Sudinna đã thọ trì và thực hành các đức hạnh từ khước có hình thức như vầy: là vị ngụ ở rừng, là vị chuyên khất thực, là vị mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, là vị đi khất thực theo tuần tự từng nhà. Đại đức sống nương tựa vào ngôi làng nọ thuộc xứ Vajjī.
Inda-bh 12~60Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Khi ấy, đại đức Sudinna đã khởi ý điều này: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khan hiếm về vật thực, khó kiếm ăn, có dịch bệnh, thẻ vật thực được phân phối, không dễ sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Vả lại, nhiều quyến thuộc của ta ở trong thành Vesālī thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo, hay là ta nên sống nương tựa vào quyến thuộc vậy? Do có liên quan đến ta, quyến thuộc sẽ ban phát các vật thí. Họ sẽ làm các điều phước thiện và các tỳ khưu sẽ nhận được lợi lộc, còn ta sẽ không bị khó nhọc về đồ ăn khất thực.”
Inda-bh 13~61Sau đó, đại đức Sudinna đã thu xếp chỗ nằm ngồi, cầm y bát, và ra đi về phía thành Vesālī. Theo tuần tự, đại đức đã đến được thành Vesālī. Tại nơi ấy trong thành Vesālī, đại đức Sudinna trú ở Mahāvana. Quyến thuộc của đại đức Sudinna đã nghe được rằng: “Nghe nói Sudinna con trai của Kalanda đã đến thành Vesālī.” Họ đã đem lại biếu cho đại đức Sudinna bữa ăn gồm sáu mươi nồi cơm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã phân chia sáu mươi nồi cơm ấy cho các tỳ khưu, rồi vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, đi vào làng Kalanda để khất thực. Trong khi đi tuần tự từng nhà để khất thực, đại đức đã đi đến nhà của cha mình.
Inda-bh 14~62Vào lúc bấy giờ, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna có ý định đổ đi món cháo chua đã để cách đêm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã nói với người nữ tỳ của quyến thuộc ấy điều này:—“Này chị gái, nếu vật ấy cần phải đổ bỏ thì hãy trút vào đây trong bình bát của tôi.” Khi ấy, trong lúc đang trút món cháo chua đã để cách đêm ấy vào bình bát của đại đức Sudinna, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna đã nhận ra đặc điểm của các cánh tay, của các bàn chân, và của giọng nói (của đại đức Sudinna). Sau đó, người nữ tỳ của quyến thuộc của đại đức Sudinna đã đi đến gặp mẹ của đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với mẹ của đại đức Sudinna điều này:—“Bẩm bà, bà nên biết là công tử Sudinna đã trở về.”—“Này nô tỳ, nếu ngươi nói đúng, ta sẽ ban cho ngươi khỏi phận tôi tớ.”
Inda-bh 15~63Vào lúc bấy giờ, đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào chân của vách tường nọ rồi thọ thực món cháo chua đã để cách đêm ấy. Và người cha của đại đức Sudinna trong lúc đi công chuyện đã nhìn thấy đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào chân của vách tường nọ đang thọ thực món cháo chua đã để cách đêm ấy, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, lẽ nào con lại ăn món cháo chua đã để cách đêm? Này Sudinna thương, hay là con nên đi về nhà mình đi?”—“Này gia chủ, tôi đã đi đến nhà của ông rồi. Từ nơi đó mà có được món cháo chua đã để cách đêm này.” Khi ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nắm lấy cánh tay của đại đức Sudinna và nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, hãy đi. Chúng ta sẽ đi về nhà.” Sau đó, đại đức Sudinna đã đi đến nhà của cha mình, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, con hãy ăn đi.”—“Này gia chủ, thôi đi. Việc thọ thực ngày hôm nay của tôi đã hoàn tất.”—“Này Sudinna thương, vậy con hãy nhận lời bữa ăn vào ngày mai.” Đại đức Sudinna đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 16~64Sau đó, khi tàn đêm ấy mẹ của đại đức Sudinna đã cho phủ lên mặt đất bằng phân bò tươi rồi bảo người chất hai đống gồm một vàng, một bạc. Các đống ấy đã lớn đến mức khiến người đứng ở phía bên này không nhìn thấy người đứng ở phía bên kia, và người đứng ở phía bên kia không nhìn thấy người đứng ở phía bên này. Sau khi đã cho che lại các đống ấy bằng những tấm thảm, cho sắp đặt chỗ ngồi ở giữa, và cho che màn xung quanh, mẹ của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng:—“Này con dâu, như thế thì khi trang điểm với đồ trang sức nào mà con đã được con trai Sudinna yêu thương quý mến thì con hãy trang điểm với đồ trang sức ấy.”—“Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna.
Inda-bh 17~65Sau đó vào buổi sáng, đại đức Sudinna đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến nhà của cha mình, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, cha của đại đức Sudinna đã đi đến gặp đại đức Sudinna, sau khi đến đã cho mở hai đống ấy ra rồi đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, phần này là vật hồi môn thuộc người nữ là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.”—“Cha à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.” Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, cha của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, phần này là vật hồi môn thuộc người nữ là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.”—“Này gia chủ, nếu gia chủ không quá căng thẳng thì chúng ta nên bàn về điều ấy.”—“Này Sudinna thương, hãy nói đi.”—“Này gia chủ, nếu vậy thì hãy bảo làm những bao tải thật lớn, cho đổ đầy vàng bạc vào, cho đưa lên các xe kéo hàng, rồi nhận chìm ở giữa sông Gaṅgā. Điều ấy có lý do là gì? Này gia chủ, bởi vì từ đó sẽ là nguyên nhân khiến ông có sự sợ hãi, hoặc có sự kinh hoàng, hoặc có lông dựng đứng, hoặc là sự gìn giữ; điều ấy sẽ không có cho ông nữa.” Khi được nói như thế, người cha của đại đức Sudinna đã tỏ ra không hài lòng:—“Tại sao con trai Sudinna lại nói như thế?”
Inda-bh 18~66Sau đó, cha của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng:—“Này con dâu, nếu vậy thì con cũng hãy nài nỉ. Có lẽ con trai Sudinna sẽ làm theo lời con.” Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã ôm lấy hai bàn chân của đại đức Sudinna và đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Công tử ơi, các nàng tiên nữ ấy như thế nào khiến chàng thực hành Phạm hạnh vì các nàng ấy vậy?”—“Này chị gái, tôi thực hành Phạm hạnh không phải vì các nàng tiên nữ.”
Inda-bh 19~67Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna (nghĩ rằng): “Từ nay, công tử Sudinna xưng hô với ta bằng tiếng chị gái,” nên đã ngất đi rồi ngã xuống ngay tại chỗ ấy. Sau đó, đại đức Sudinna đã nói với cha điều này:—“Này gia chủ, nếu vật thực sẽ được bố thí thì hãy bố thí đi. Ông chớ có quấy rầy chúng ta nữa.”—“Này Sudinna thương, hãy ăn đi.” Khi ấy, mẹ và cha của đại đức Sudinna đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Sudinna với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Sau đó, khi đại đức Sudinna đã thọ thực xong bàn tay đã rời bình bát, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.”—“Mẹ à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.” Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy tài sản không người thừa tự của chúng ta.”—“Mẹ à, điều này tôi có thể làm được.”—“Này Sudinna thương, hiện nay con ngụ ở đâu vậy?”—“Mẹ à, ở Mahāvana.” Sau đó, đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 20~68Sau đó, mẹ của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng:—“Này con dâu, nếu vậy thì khi nào đến thời kỳ, kinh nguyệt của con xuất hiện, khi ấy con hãy cho mẹ hay.”—“Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna. Sau đó chẳng bao lâu, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã đến thời kỳ, nàng đã có kinh nguyệt. Khi ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã nói với mẹ của đại đức Sudinna điều này:—“Thưa mẹ, con đã đến thời kỳ, kinh nguyệt của con đã xuất hiện.”—“Này con dâu, như thế thì khi trang điểm với đồ trang sức nào mà con đã được con trai Sudinna yêu thương quý mến thì con hãy trang điểm với đồ trang sức ấy.”—“Thưa mẹ, xin vâng,” người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả lời mẹ của đại đức Sudinna. Sau đó, mẹ của đại đức Sudinna đã đưa người vợ cũ của đại đức Sudinna đi đến Mahāvana gặp đại đức Sudinna, sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước thiện đi.”—“Mẹ à, tôi không thể nào, tôi không dám. Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.”
Đến lần thứ nhì, … nt … Đến lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải, nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy tài sản không người thừa tự của chúng ta.”
Inda-bh 21~69—“Mẹ à, điều này tôi có thể làm được,” rồi vị ấy đã nắm lấy cánh tay của người vợ cũ đi vào Mahāvana. Trong khi điều học chưa được quy định, vị ấy không nhận thức được điều nguy hại nên đã tiến hành việc đôi lứa với người vợ cũ ba lần. Do việc ấy, nàng ta đã mang thai.
Chư Thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng:—“Ngài ơi, hội chúng tỳ khưu quả thật không có sự ô uế, không bị điều tai họa, nay Udinna Kalandaputta đã gây nên sự ô uế, đã gây nên điều tai họa!” Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở địa cầu, chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: … (như trên) … chư Thiên ở cõi Đạo Lợi … (như trên) … chư Thiên ở cõi Dạ Ma … (như trên) … chư Thiên ở cõi Đẩu Suất … (như trên) … chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên … (như trên) … chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại … (như trên) … chư Thiên thuộc hàng Phạm Thiên đã đồn đãi lời rằng:—“Ngài ơi, hội chúng tỳ khưu quả thật không có sự ô uế, không bị điều tai họa, nay Udinna Kalandaputta đã gây nên sự ô uế, đã gây nên điều tai họa!” Vào thời khắc ấy vào giây phút ấy, lời đồn đãi như thế ấy đã đi đến các cõi trời Phạm Thiên.
Inda-bh 22~70Sau đó, khi bào thai ấy đã được phát triển đầy đủ, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã sanh con trai. Khi ấy, những người bạn của đại đức Sudinna đã đặt tên cho đứa bé trai là “Chủng Tử,” đã đặt tên cho người vợ cũ của đại đức Sudinna là “Mẹ của Chủng Tử,” và đã đặt tên cho đại đức Sudinna là “Cha của Chủng Tử.” Thời gian sau, cả hai mẹ con ấy đã rời nhà xuất gia sống không nhà và đã chứng đắc phẩm vị A-la-hán.
Inda-bh 23~71Sau đó, đại đức Sudinna đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!” Do chính sự ăn năn ấy và do nỗi ân hận ấy, vị ấy đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn.
Inda-bh 24~72Khi ấy, những vị tỳ khưu bạn của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:—“Này đại đức Sudinna, trước đây đại đức có sắc tướng, các căn rạng rỡ, sắc diện an tịnh, màu da trong sáng. Hiện nay, trong lúc này đại đức đây lại trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn. Này đại đức Sudinna, không lẽ đại đức không thỏa thích thực hành Phạm hành hay sao?”
—“Này các đại đức, không phải tôi không thỏa thích thực hành Phạm hạnh mà tôi đã tạo nên ác nghiệp, tôi đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ. Này các đại đức, tôi đây đã có sự ăn năn, đã có nỗi ân hận: ‘Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!’”
Inda-bh 25~73—“Này đại đức Sudinna, đại đức có sự ăn năn là phải lẽ, có nỗi ân hận là phải lẽ. Bởi vì đại đức đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời.
Inda-bh 26~74Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao?
Inda-bh 27~75Này đại đức, ở đây trong khi đức Thế Tôn thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì đại đức lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì đại đức lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì đại đức lại nghĩ đến sự chấp thủ.
Inda-bh 28~76Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế các sự khao khát, để trừ diệt các sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao?
Inda-bh 29~77Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?
Inda-bh 30~78Này đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Inda-bh 31~79Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Sudinna rằng:—“Này Sudinna, nghe nói ngươi thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
Inda-bh 32~80—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời?
Inda-bh 33~81Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao?
Inda-bh 34~82Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây trong khi Ta thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì ngươi lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì ngươi lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì ngươi lại nghĩ đến sự chấp thủ.
Inda-bh 35~83Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng Pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế sự khao khát, để trừ diệt sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao?
Inda-bh 36~84Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?
Inda-bh 37~85Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con hắc xà còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực còn là điều cao thượng, chớ đặt dương vật vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.
Inda-bh 38~86Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây lại là ngươi, tức là việc ngươi bị vướng vào việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Này kẻ rồ dại, đối với nhiều pháp bất thiện ngươi là người vi phạm đầu tiên, trước tất cả. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Inda-bh 39~87Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 40~88—“Này các tỳ khưu, như thế thì Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào thực hiện việc đôi lứa là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[Sự quy định căn bản]
Dứt tụng phẩm về Sudinna.
CHUYỆN CON KHỈ CÁI:
Inda-bh 1~89Vào lúc bấy giờ, tại Mahāvana ở Vesālī, có vị tỳ khưu nọ dùng thức ăn dụ dỗ con khỉ cái rồi thực hiện việc đôi lứa với nó. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Vesālī để khất thực.
Inda-bh 2~90Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong lúc đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Con khỉ cái ấy đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy từ đàng xa đang đi lại, sau khi thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã lúc lắc hông ở phía trước các vị tỳ khưu ấy, đã lúc lắc đuôi, đã đưa hông ra, và đã làm dấu hiệu. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Không còn nghi ngờ gì nữa, vị tỳ khưu ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái này!” rồi đã nấp vào ở một bên. Sau đó, vị tỳ khưu ấy sau khi đi khất thực ở trong thành Vesālī đã mang đồ ăn khất thực quay trở về.
Inda-bh 3~91Khi ấy, con khỉ cái ấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy. Rồi vị tỳ khưu ấy, sau khi thọ dụng đồ khất thực ấy một phần, đã cho con khỉ cái ấy một phần. Sau đó, khi đã ăn xong con khỉ cái ấy đã đưa hông ra cho vị tỳ khưu ấy. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái ấy.
Inda-bh 4~92Rồi các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, chẳng phải điều học đã được đức Thế Tôn quy định hay sao? Này đại đức, tại sao đại đức lại thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái?”—“Này các đại đức, đúng vậy. Điều học đã được đức Thế Tôn quy định và điều ấy là với người nữ chứ không phải với thú cái.”—“Này đại đức, chẳng phải điều ấy là đúng như thế hay sao? Này đại đức, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này đại đức, tại sao đại đức sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời? Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, … (như trên) … đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này đại đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau đó, khi đã khiển trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 5~93Khi đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi vị tỳ khưu ấy rằng:“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời? Này kẻ rồ dại, không phải Ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, … (như trên) … đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao?
Inda-bh 6~94Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của con hắc xà còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực còn là điều cao thượng, chớ đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.
Inda-bh 7~95Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây lại là ngươi, tức là việc ngươi bị vướng vào việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Inda-bh 8~96Sau đó, khi đã khiển trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức Ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 9~97“Này các tỳ khưu, như thế thì Ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[Sự quy định lần hai]
Dứt chuyện con khỉ cái.
TỤNG PHẨM—ĐƯỢC CHE PHỦ:
Inda-bh 1~98Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu nhóm Vajjiputtaka trú xứ Vesālī đã thọ thực theo ý thích, ngủ theo ý thích, tắm theo ý thích. Sau khi đã thọ thực theo ý thích, sau khi đã ngủ theo ý thích, sau khi đã tắm theo ý thích, sau khi đã tác ý không chơn chánh, các vị ấy đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược.
Thời gian sau đó, các vị ấy bị tác động bởi sự bất hạnh của quyến thuộc, bởi sự bất hạnh về tài sản, bởi sự bất hạnh về bệnh hoạn nên đã đi đến gặp đại đức Ānanda và nói như vầy:—“Thưa ngài Ānanda, chúng tôi không phải là những người chê bai đức Phật, không phải là những người chê bai Giáo Pháp, không phải là những người chê bai Hội Chúng. Thưa ngài Ānanda, chúng tôi là những người chê bai chính mình, là những người không chê bai kẻ khác. Chính chúng tôi không có may mắn, chúng tôi có phước báu ít ỏi, chúng tôi đây sau khi xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời. Thưa ngài Ānanda, nếu như giờ đây chúng tôi có thể đạt được sự xuất gia trong sự chứng minh của đức Phật, có thể đạt được sự tu lên bậc trên, thì giờ đây chúng tôi cũng có thể là những người hành Minh Sát, có thể sống gắn bó với sự tu tập về các thiện pháp tức là các pháp có liên quan đến sự giác ngộ vào đầu đêm và cuối đêm. Thưa ngài Ānanda, lành thay xin ngài hãy trình sự việc này lên đức Thế Tôn.”—“Này các đại đức, được rồi.” Nghe theo các vị nhóm Vajjiputtaka trú xứ Vesālī, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này Ānanda, việc Như Lai có thể hủy bỏ điều học pārājika đã được quy định cho các đệ tử vì lý do của các vị Vajjī hoặc của những người con trai của các vị Vajjī là điều không có cơ sở và không hợp lý.” Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược mà thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy không được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi lìa bỏ sự học tập và sau khi tuyên bố sự yếu nhược rồi thực hiện việc đôi lứa thì vị ấy có thể được tu lên bậc trên trong tương lai. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
Inda-bh 3~99“Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”
[Sự quy định lần ba]
Inda-bh 4~100Vị nào: là bất cứ vị nào có mối quan hệ như vầy, có giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có giới hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có nơi đi lại như vầy, là vị trưởng lão (trên 10 năm tỳ khưu), hoặc là vị mới tu (dưới 5 năm), hoặc là vị trung niên (trên 5 năm); vị ấy được gọi là ‘vị nào.’
Inda-bh 5~101Tỳ khưu: ‘Vị đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị chấp nhận việc đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị mặc y đã được cắt rời’ là tỳ khưu. Là tỳ khưu do sự thừa nhận. Là tỳ khưu do tự mình xác nhận. Là tỳ khưu khi được (đức Phật) nói rằng: ‘Này tỳ khưu, hãy đi đến.’ ‘Vị đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy’ là tỳ khưu. ‘Vị hiền thiện’ là tỳ khưu. ‘Vị có thực chất’ là tỳ khưu. ‘Vị Thánh hữu học’ là tỳ khưu. ‘Vị Thánh vô học’ là tỳ khưu. ‘Vị đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì’ là tỳ khưu. Ở đây, vị tỳ khưu đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất, bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì, vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Inda-bh 6~102Sự học tập: Có ba sự học tập: sự học tập về tăng thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học tập về tăng thượng tuệ. Ở đây, ‘sự học tập’ được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng thượng giới.
Inda-bh 7~103Lối sống: nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều học ấy gọi là lối sống. Vì thế, vị học tập theo lối sống ấy được gọi là ‘thọ trì lối sống.’
Inda-bh 8~104Khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược: Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 9~105Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ, mong mỏi thân phận cư sĩ, mong mỏi thân phận người phụ việc chùa, mong mỏi thân phận sa di, mong mỏi thân phận ngoại đạo, mong mỏi thân phận đệ tử ngoại đạo, mong mỏi thân phận không phải là Sa-môn, mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ đức Phật?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 10~106Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Giáo Pháp?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Hội Chúng?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ sự học tập?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ Luật?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ giới bổn Pātimokkha?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ việc đọc tụng?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ thầy tế độ?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ thầy dạy học?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ đệ tử?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ học trò?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy tế độ?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy dạy học?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên lìa bỏ vị đồng Phạm hạnh?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành gia chủ?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành nam cư sĩ?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành người phụ việc chùa?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành sa di?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành ngoại đạo?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành đệ tử ngoại đạo?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành không phải là Sa-môn?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hay là tôi nên trở thành không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 11~107Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Nếu như tôi có thể lìa bỏ đức Phật?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Nếu như tôi có thể không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 12~108Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Giờ tôi nên lìa bỏ đức Phật?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Giờ tôi nên không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 13~109Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Vậy tôi hãy nên lìa bỏ đức Phật?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Vậy tôi hãy nên không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 14~110Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Ước gì tôi có thể lìa bỏ đức Phật?’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Ước gì tôi có thể không phải là Thích tử?’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 15~111Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ mẹ.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ cha.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ anh (em) trai.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ chị (em) gái.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ con trai.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ con gái.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vợ.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ quyến thuộc.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ bạn bè.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ làng quê.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ phố phường.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ ruộng.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vườn.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ tiền vàng.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ vàng khối.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi nhớ nghề nghiệp.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi hồi tưởng lại sự cười, nói, đùa giỡn trước đây.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 16~112Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có mẹ. Người ấy có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có cha. Người ấy có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có anh (em) trai. Người ấy có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có chị (em) gái. Người ấy có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con trai. Nó có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con gái. Nó có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vợ. Cô ấy có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có quyến thuộc. Họ có thể nuôi tôi.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có bạn bè. Họ có thể nuôi tôi.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 17~113Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … nt … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có mẹ. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có cha. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có anh (em) trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có chị (em) gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có con gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vợ. Người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có quyến thuộc. Các người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có bạn bè. Các người ấy sẽ nuôi tôi.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có làng quê. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có phố phường. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có ruộng. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vườn. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có tiền vàng. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có vàng khối. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi có nghề nghiệp. Tôi sẽ sống nhờ nó.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 18~114Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … nt … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Việc khó làm!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Không phải việc dễ làm!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Việc khó thực hành!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Không phải việc dễ thực hành!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không nỗ lực!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không chịu đựng nổi!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không sung sướng!’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không thỏa thích!’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 19~115Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 20~116Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Giáo Pháp.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Hội Chúng.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ sự học tập.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ Luật.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ giới bổn Pātimokkha.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ việc đọc tụng.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ thầy tế độ.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ thầy dạy học.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ đệ tử.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ học trò.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị có chung thầy tế độ.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị có chung thầy dạy học.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi lìa bỏ vị đồng Phạm hạnh.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là gia chủ.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là cư sĩ.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là người phụ việc chùa.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là sa di.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là ngoại đạo.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi là đệ tử ngoại đạo.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi không phải là Sa-môn.’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Hãy ghi nhận tôi không phải là Thích tử.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 21~117Hoặc là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định giã từ hạnh Sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ … (như trên) … mong mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã chán đức Phật.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã chán vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là … (như trên) … và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 22~118Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi còn liên quan gì với đức Phật?’ … nt … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi còn liên quan gì với vị đồng Phạm hạnh?’ Này các tỳ khưu, như thế là … nt … và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 23~119Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không cần đến đức Phật.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi không cần đến vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là … (như trên) … và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 24~120Hoặc là … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi đức Phật.’ … (như trên) … nói ra, tuyên bố rằng: ‘Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi vị đồng Phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 25~121Hoặc là, còn có những điều khác ám chỉ đức Phật, hoặc ám chỉ Giáo Pháp, hoặc ám chỉ Hội Chúng, hoặc ám chỉ sự học tập, hoặc ám chỉ Luật, hoặc ám chỉ giới bổn Pātimokkha, hoặc ám chỉ việc đọc tụng, hoặc ám chỉ thầy tế độ, hoặc ám chỉ thầy dạy học, hoặc ám chỉ người đệ tử, hoặc ám chỉ người học trò, hoặc ám chỉ vị có chung thầy tế độ, hoặc ám chỉ vị có chung thầy dạy học, hoặc ám chỉ vị đồng Phạm hạnh, hoặc ám chỉ gia chủ, hoặc ám chỉ nam cư sĩ, hoặc ám chỉ người phụ việc chùa, hoặc ám chỉ sa di, hoặc ám chỉ ngoại đạo, hoặc ám chỉ đệ tử ngoại đạo, hoặc ám chỉ việc không phải là Sa-môn, hoặc ám chỉ việc không phải là Thích tử, và vị nói ra, tuyên bố với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy. Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Inda-bh 26~122Này các tỳ khưu, thế nào là sự học tập chưa được lìa bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được lìa bỏ với những hình thức, với những biểu hiện, với những dấu hiệu mà vị bị điên lìa bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những biểu hiện ấy, với những dấu hiệu ấy thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị điên thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị có tâm bị rối loạn lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị có tâm bị rối loạn thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị bị thọ khổ hành hạ lìa bỏ sự học tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của vị bị thọ khổ hành hạ thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của Thiên nhân thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của loài thú thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người bình dân và nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người quý phái và nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người quý phái nhưng nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người bình dân nhưng nếu người ấy không hiểu thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo lối đùa cợt thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học do bị lỡ lời thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói ra nhưng có ý định không cho nghe thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy có ý định cho nghe nhưng nói ra không nghe được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói với kẻ không hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy không nói ra cho nghe đến người hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Hoặc vị ấy không nói ra đầy đủ thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, như thế là sự học tập chưa được lìa bỏ.
Inda-bh 27~123Việc đôi lứa nghĩa là việc nào là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.
Inda-bh 28~124Thực hiện nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng vào vật biểu tượng, đưa dương vật vào âm vật cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.
Inda-bh 29~125Ngay cả với loài thú cái: Sau khi thực hiện việc đôi lứa với giống cái của loài thú thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử nữa, chứ không phải chỉ với người nữ; vì thế được gọi là ‘ngay cả với loài thú cái.’
Inda-bh 30~126Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể ấy, tương tợ như thế vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn, không còn là Thích tử; vì thế được gọi ‘là vị phạm tội pārājika.’
Inda-bh 31~127Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không có được điều ấy, vì thế được gọi là ‘không được cộng trú.’
Inda-bh 32~128Nữ tánh có ba loại: người nữ, phi nhân nữ, thú cái. Lưỡng căn có ba loại: người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn. Vô căn có ba loại: người vô căn, phi nhân vô căn, thú vô căn. Nam tánh có ba loại: người nam, phi nhân nam, thú đực.
Inda-bh 33~129Vị thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân nữ … (như trên) … với thú cái theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với người lưỡng căn … (như trên) … với phi nhân lưỡng căn … (như trên) … với thú lưỡng căn theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 34~130Vị thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân vô căn … (như trên) … với thú vô căn … (như trên) … với người nam … (như trên) … với phi nhân nam … (như trên) … với thú đực theo hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 35~131Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường tiểu tiện … (như trên) … vào miệng của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện … (như trên) … vào đường tiểu tiện … (như trên) … vào miệng của phi nhân nữ … (như trên) … của thú cái … (như trên) … của người lưỡng căn … (như trên) … của phi nhân lưỡng căn … (như trên) … của thú lưỡng căn thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 36~132Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện … (như trên) … vào miệng của người vô căn thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện … (như trên) … vào miệng của phi nhân vô căn … (như trên) … của thú vô căn … (như trên) … của người nam … (như trên) … của phi nhân nam … (như trên) … của thú đực … (như trên) … thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 37~133Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, (nhưng) ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, (nhưng) ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, (nhưng) ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện (của cô ấy). Nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, không ưng thuận việc rút ra thì vô tội.
Inda-bh 38~134Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường tiểu tiện … (như trên) … với miệng (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 39~135Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … (như trên) … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … (như trên) … Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 40~136Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của cô ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 41~137Các tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ … nt … thú cái … nt … người lưỡng căn … nt … phi nhân lưỡng căn … nt … thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 42~138Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo … (như trên) … đang ngủ … (như trên) … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … (như trên) … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … (như trên) … Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 43~139Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 44~140Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn … (như trên) … phi nhân vô căn … (như trên) … thú vô căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 45~141Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần Nếu vị ấy ưng thuận … nt … thì phạm tội pārājika. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 46~142Các tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 47~143Các tỳ khưu đối nghịch đem người nam … nt … phi nhân nam … nt … thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 48~144Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … nt … Nếu vị ấy ưng thuận … nt … thì phạm tội pārājika. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 49~145Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với miệng (của đối tượng). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … nt … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 50~146Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của cô ấy), của cô ấy được che phủ và của vị ấy không được che phủ … nt … của cô ấy không được che phủ và của vị ấy được che phủ … nt … của cô ấy được che phủ và của vị ấy được che phủ … nt … của cô ấy không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 51~147Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ... Nếu vị ấy ưng thuận … nt … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 52~148Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ … nt … phi nhân nữ … nt … thú cái đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 53~149Các tỳ khưu đối nghịch đem người lưỡng căn … nt … phi nhân lưỡng căn … nt … thú lưỡng căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với đường tiểu tiện … nt … với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 54~150Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … (như trên) … thì phạm tội pārājika.
Inda-bh 55~151Các tỳ khưu đối nghịch đem thú lưỡng căn đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ... với đường tiểu tiện ... với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 56~152Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn ... phi nhân vô căn ... thú vô căn ... người nam ... phi nhân nam ... thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện ... với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 57~153Các tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn … nt … thú đực đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … nt … Nếu vị ấy ưng thuận … nt … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 58~154Các tỳ khưu đối nghịch đem thú đực đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (vị ấy) với đường đại tiện … nt … với miệng (của đối tượng), của đối tượng được che phủ và của vị ấy không được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ ... của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 59~155Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện … nt … đường tiểu tiện … nt … miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 60~156Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ... Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 61~157Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện ... đường tiểu tiện ... miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 62~158Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ ... thú cái ... người lưỡng căn ... phi nhân lưỡng căn ... thú lưỡng căn ... người vô căn ... phi nhân vô căn ... thú vô căn ... người nam ... phi nhân nam ... thú đực rồi kết hợp đường đại tiện … nt … miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 63~159Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo … nt … đang ngủ … nt … đang say sưa … nt … bị điên … nt … đang đờ đẫn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn … nt … đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần … nt … Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 64~160Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện … nt … miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 65~161Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ rồi kết hợp đường đại tiện ... đường tiểu tiện ... miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của cô ấy không được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của cô ấy được che phủ ... của vị ấy được che phủ và của cô ấy được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của cô ấy không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 66~162Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ... bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ... Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 67~163Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người nữ đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện ... đường tiểu tiện ... miệng (của cô ấy) với dương vật (vị ấy). Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 68~164Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ ... thú cái ... người lưỡng căn ... phi nhân lưỡng căn ... thú lưỡng căn rồi kết hợp đường đại tiện ... đường tiểu tiện ... miệng (của đối tượng) ... lại gần người vô căn ... phi nhân vô căn ... thú vô căn ... người nam ... phi nhân nam ... thú đực rồi kết hợp đường đại tiện ... miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ ... của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 69~165Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo ... đang ngủ ... đang say sưa ...bị điên ... đang đờ đẫn ... đã chết chưa bị (thú) ăn ... đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ... Nếu vị ấy ưng thuận … (như trên) … thì phạm tội pārājika. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 70~166Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện ... miệng (của đối tượng) với dương vật (vị ấy), của vị ấy được che phủ và của đối tượng không được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của đối tượng được che phủ ... của vị ấy được che phủ và của đối tượng được che phủ ... của vị ấy không được che phủ và của đối tượng không được che phủ. Nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya. … (như trên) … không ưng thuận thì vô tội.
Inda-bh 71~167Các vị vua đối nghịch ... Các kẻ trộm cướp đối nghịch ... Các kẻ vô lại đối nghịch ... Các kẻ thảo khấu đối nghịch ... thì phạm tội ... thì vô tội (nên phân tích tương tợ như ở các phần liên quan đến ‘các tỳ khưu đối nghịch’).
[Phần ‘Được Che Phủ’ đã được giảng xong].
Inda-bh 72~168Đưa vào đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội pārājika. Đưa vào nơi không phải là đường khiếu không theo đường khiếu thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 73~169Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ. Vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
Inda-bh 74~170Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị sa di đang ngủ. Vị sa di thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị sa di thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
Inda-bh 75~171Vị sa di vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ. Vị tỳ khưu thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị tỳ khưu thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
Inda-bh 76~172Vị sa di vi phạm giới với vị sa di đang ngủ. Vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
Inda-bh 77~173Vị không biết, vị không ưng thuận, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Dứt tụng phẩm “Được Che Phủ.”
CHUYỆN DẪN GIẢI:
Con khỉ cái, và các vị Vajjī, có (hình tướng) gia chủ, lõa thể, và ngoại đạo, đứa bé gái, vị ni Uppalavaṇṇā, hai trường hợp chuyển tánh kỳ lạ.
Người mẹ, con gái, chị (em) gái, người vợ, lưng dẻo, dương vật dài, hai trường hợp vết loét, tranh vẽ, và tượng gỗ.
Với năm chuyện Sundara, năm ở bãi tha ma, khúc xương, rồng cái, Dạ-xoa nữ, ma nữ, người vô căn, liệt cảm giác, khi đụng,
Chuyện vị A-la-hán ngủ ở Bhaddiya, bốn chuyện Sāvatthī, Vesāli ba chuyện, vòng hoa, vị ngủ mơ, ở Bhārukaccha,
Supabbā, Saddhā, vị tỳ khưu ni, vị ni tu tập sự, vị sa di ni, gái điếm, người vô căn, nữ gia chủ, lẫn nhau, vị lớn tuổi xuất gia, con nai.
Inda-bh 1~174Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện điều đôi lứa với con khỉ cái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (1)
Inda-bh 2~175Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu Vajjiputtaka cư trú ở Vesālī đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.” (2)
Inda-bh 3~176Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa với hình tướng gia chủ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (3)
Inda-bh 4~177Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội,” sau khi trở nên trần truồng rồi đã thực hiện việc đôi lứa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (4)
Inda-bh 5~178Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội,” sau khi mặc vải sợi cỏ … nt … sau khi mặc vỏ cây … nt … sau khi mặc gỗ lát mỏng … nt … sau khi mặc tấm mền bằng tóc … nt … sau khi mặc cánh chim cú … nt … sau khi mặc da sơn dương rồi đã thực hiện việc đôi lứa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (5–11)
Inda-bh 6~179Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực. Khi thấy một đứa bé gái nằm trên ghế, vị ấy đã khởi dục vọng rồi đưa ngón tay cái vào âm vật (của đứa bé gái). Đứa bé gái đã chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Ngươi phạm tội saṅghādisesa.” (12)
Inda-bh 7~180Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên Bā-la-môn nọ đem lòng say đắm tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā. Khi ấy, lúc tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã đi vào làng để khất thực, thanh niên Bā-la-môn ấy đã đi vào liêu cốc nấp kín rồi chờ đợi. Khi đi khất thực trở về sau bữa ăn, tỳ khưu ni Uppala-vaṇṇā đã rửa chân rồi đi vào liêu cốc và ngồi xuống ở trên giường. Khi ấy, người thanh niên Bā-la-môn ấy đã nhấc bổng tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā lên và làm điều tồi bại. Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị ni không ưng thuận thì vô tội.” (13)
Inda-bh 8~181Vào lúc bấy giờ, tướng trạng người nữ đã xuất hiện ở vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuyển sang (sinh hoạt) với các tỳ khưu ni (và vẫn giữ nguyên) thầy tế độ ấy, sự tu lên bậc trên ấy, các năm (thâm niên) ấy. Những tội nào của các tỳ khưu có liên quan đến các tỳ khưu ni, các tội ấy được làm cho hết tội trong sự chứng minh của các tỳ khưu ni. Những tội nào của các tỳ khưu không có liên quan đến các tỳ khưu ni thì được vô tội với các tội ấy.” (14)
Inda-bh 9~182Vào lúc bấy giờ, tướng trạng người nam đã xuất hiện ở vị tỳ khưu ni nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuyển sang (sinh hoạt) với các tỳ khưu (và vẫn giữ nguyên) thầy tế độ ấy, sự tu lên bậc trên ấy, các năm (thâm niên) ấy. Những tội nào của các tỳ khưu ni có liên quan đến các tỳ khưu, các tội ấy được làm cho hết tội trong sự chứng minh của các tỳ khưu. Những tội nào của các tỳ khưu ni không có liên quan đến các tỳ khưu thì được vô tội với các tội ấy.” (15)
Inda-bh 10~183Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa với người mẹ. … (như trên) … rồi đã thực hiện việc đôi lứa với con gái. … (như trên) … rồi đã thực hiện việc đôi lứa với chị (em) gái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (16–18)
Inda-bh 11~184Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (19)
Inda-bh 12~185Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người có lưng dẻo. Vị ấy bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã dùng miệng ngậm lấy dương vật của mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (20)
Inda-bh 13~186Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người có dương vật dài. Vị ấy bị bực bội bởi sự không thỏa thích nên đã đưa dương vật của mình vào đường đại tiện của mình. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (21)
Inda-bh 14~187Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nhìn thấy thây người chết. Và trên thi thể ấy, có vết loét ở bên cạnh bộ phận sinh dục. Vị ấy (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã đưa dương vật vào bộ phận sinh dục rồi rút ra bằng chỗ vết loét. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (22)
Inda-bh 15~188Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nhìn thấy thây người chết. Và trên thi thể ấy, có vết loét ở bên cạnh bộ phận sinh dục. Vị ấy (nghĩ rằng): “Như thế này thì ta sẽ không phạm tội” rồi đã đưa dương vật vào vết loét rồi rút ra từ bộ phận sinh dục. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (23)
Inda-bh 16~189Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã dùng dương vật (của mình) sờ vào vật biểu tượng ở tranh vẽ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (24)
Inda-bh 17~190Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục nên đã dùng dương vật (của mình) sờ vào chỗ kín ở tượng gỗ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (25)
Inda-bh 18~191Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên Sundara đã được xuất gia ở thành Rājagaha và (đang) đi trên đường. Có người nữ nọ [sau khi nhìn thấy vị ấy đã nói điều này]:—“Thưa ngài, xin chờ chốc lát, tôi sẽ đảnh lễ.” Trong khi đảnh lễ, người nữ ấy đã vén y nội lên rồi dùng miệng ngậm lấy dương vật (vị ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận?”—“Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận.”—“Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (26)
Inda-bh 19~192Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.”—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.”—“Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ ra sức, ngài đừng ra sức; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (27)
Inda-bh 20~193Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.”—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.”—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy ra sức, tôi sẽ không ra sức; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (28)
Inda-bh 21~194Vào lúc bấy giờ, có người nữ nọ sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.”—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.”—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bên trong rồi cho xuất tinh ra ở bên ngoài. … (như trên) … “Ngài hãy cọ xát ở bên ngoài rồi cho xuất tinh ra ở bên trong; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (29–30)
Inda-bh 22~195Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể chưa bị (thú) ăn và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (31)
Inda-bh 23~196Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể chưa bị (thú) ăn nhiều phần và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (32)
Inda-bh 24~197Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy thi thể đã bị (thú) ăn nhiều phần và đã thực hiện việc đôi lứa ở thi thể ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya.” (33)
Inda-bh 25~198Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy cái đầu bị đứt lìa rồi đã đưa dương vật vào vào cái miệng đã được banh ra và có va chạm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (34)
Inda-bh 26~199Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi đi đến bãi tha ma đã nhìn thấy cái đầu bị đứt lìa rồi đã đưa dương vật vào cái miệng đã được banh ra và không va chạm. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (35)
Inda-bh 27~200Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đem lòng say đắm người nữ nọ. Nàng ấy đã từ trần và bị quăng bỏ ở mộ địa. Các khúc xương đã bị phân tán rải rác. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã đi vào bãi tha ma rồi thâu nhặt các khúc xương lại và đã đặt dương vật vào chỗ kín. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa.” (36)
Inda-bh 28~201Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc đôi lứa với rồng cái. … nt … đã thực hiện việc đôi lứa với Dạ-xoa nữ. … nt … đã thực hiện việc đôi lứa với ma nữ. … nt … đã thực hiện việc đôi lứa với người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (37–40)
Inda-bh 29~202Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị liệt cảm giác. Vị ấy (nghĩ rằng): “Ta đây không cảm giác được lạc hay khổ, như thế ta sẽ không phạm tội” rồi đã thực hiện việc đôi lứa. … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ rồ dại ấy đã phạm tội pārājika dầu đã cảm giác hay đã không cảm giác.” (41)
Inda-bh 30~203Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Ta sẽ thực hiện việc đôi lứa với người nữ” nhưng chỉ mới chạm vào vị ấy đã hối hận. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (42)
Inda-bh 31~204Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Jātiyā ở thành Bhaddiya. Các phần cơ thể của vị ấy đã bị cương lên bởi gió. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy), đến khi đạt được mục đích đã bỏ đi. Các vị tỳ khưu nhìn thấy (vị ấy) bị nhầy nhụa nên đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, dương vật trở nên thích ứng do năm lý do: do ái dục, do phân, do nước tiểu, do gió, do bị cắn bởi sâu bọ. Này các tỳ khưu, đây là năm lý do làm cho dương vật trở nên thích ứng. Này các tỳ khưu, dương vật của vị tỳ khưu ấy trở nên thích ứng do ái dục là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không phạm tội.” (43)
Inda-bh 32~205Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthī. Có cô chăn bò nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận việc đưa vào, đã ưng thuận khi được đẩy vào, đã ưng thuận khi dừng lại, đã ưng thuận việc rút ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (44)
Inda-bh 33~206Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày trong khu rừng Andha ở thành Sāvatthī. Có cô chăn dê nọ nhìn thấy … (như trên) … Có cô đi mót củi nọ nhìn thấy … (như trên) … Có cô đi nhặt phân bò nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận việc đưa vào, đã ưng thuận khi được đẩy vào, đã ưng thuận khi dừng lại, đã ưng thuận việc rút ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (45–47)
Inda-bh 34~207Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ nằm nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên dương vật (vị ấy), sau khi đạt được mục đích đã đứng cạnh bên rồi cười. Vị tỳ khưu ấy thức giấc đã nói với người nữ ấy điều này:—“Có phải việc làm này là của cô?”—“Thưa vâng, là việc làm của tôi.” Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi có ưng thuận không?”—“Bạch Thế Tôn, con không biết.”—“Này tỳ khưu, vị không biết thì vô tội.” (48)
Inda-bh 35~208Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī đã nằm xuống tựa vào thân cây. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã lập tức đứng dậy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận?—“Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận.—“Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (49)
Inda-bh 36~209Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày ở Mahāvana trong thành Vesālī đã nằm xuống tựa vào thân cây. Có người nữ nọ nhìn thấy rồi đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã nhổm dậy khiến cô ấy lăn tròn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, có phải ngươi đã ưng thuận?—“Bạch Thế Tôn, con đã không ưng thuận.—“Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (50)
Inda-bh 37~210Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nghỉ ngơi vào ban ngày tại giảng đường Kūṭāgāra ở Mahāvana trong thành Vesālī đã mở cửa lớn rồi nằm xuống. Các phần thân thể của vị ấy đã bị cương lên bởi gió. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người nữ mang theo vật thơm và tràng hoa đã đi đến tu viện ngắm nhìn các trú xá. Khi ấy, những người nữ ấy đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy nên đã ngồi lên trên dương vật (vị ấy), đến khi đạt được mục đích đã nói rằng: “Đây quả thật là người như bò mộng,” sau khi để lại vật thơm và tràng hoa rồi đã bỏ đi. Các vị tỳ khưu nhìn thấy (vị ấy) bị nhầy nhụa nên đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, dương vật trở nên thích ứng do năm lý do: do ái dục, do phân, do nước tiểu, do gió, do bị cắn bởi sâu bọ. Này các tỳ khưu, đây là năm lý do làm cho dương vật trở nên thích ứng. Này các tỳ khưu, dương vật của vị tỳ khưu ấy trở nên thích ứng do ái dục là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không có phạm tội. Này các tỳ khưu, đối với vị nghỉ ngơi vào ban ngày, Ta cho phép nghỉ ngơi sau khi đã đóng cửa lớn lại.” (51)
Inda-bh 38~211Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ người thành phố Bhārukaccha trong lúc đang ngủ (mơ thấy) đã thực hiện việc đôi lứa với người vợ cũ (nên nghĩ rằng): “Ta không còn là Sa-môn nữa, ta sẽ hoàn tục.” Trong lúc đi đến thành phố Bhārukaccha, giữa đường đã nhìn thấy đại đức Upāli và đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã nói như vầy:—“Này đại đức, với vị đang ngủ mơ thì không phạm tội.” (52)
Inda-bh 39~212Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Supabbā ở trong thành Rājagaha là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có tri kiến như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai bắp vế; như thế ngài sẽ không phạm tội. Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (53)
Inda-bh 40~213Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Supabbā ở trong thành Rājagaha là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có quan điểm như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.”—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.”—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở lỗ rún; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bụng; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở nách; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở cổ; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở lỗ tai; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở bím tóc; ... Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai ngón tay; ... Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ dùng tay ra sức và làm (ngài) xuất tinh; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (54–61)
Inda-bh 41~214Vào lúc bấy giờ, nữ cư sĩ tên Saddhā ở trong thành Sāvatthī là người có đức tin mù quáng. Cô ấy có quan điểm như vầy: “Người nữ nào dâng cúng việc đôi lứa thì người nữ ấy dâng cúng vật thí tối thượng.” Sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, cô ấy đã nói điều này:—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy thực hiện việc đôi lứa.”—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy cọ xát ở giữa hai bắp vế; … nt … Thưa ngài, hãy đến. Tôi sẽ đến gần và dùng tay làm (ngài) xuất tinh; như thế ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như thế. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … nt … “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika mà phạm tội saṅghādisesa.” (62–70)
Inda-bh 42~215Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với vị tỳ khưu ni. Cả hai đã ưng thuận.—“Cả hai nên bị trục xuất.” … (như trên) … Cả hai đã không ưng thuận.—“Cả hai đều vô tội.” (71)
Inda-bh 43~216Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với cô ni tu tập sự. … nt … rồi buộc phải phạm giới với vị sa di ni. Cả hai đã ưng thuận.—“Cả hai nên bị trục xuất.” … (như trên) … Cả hai đã không ưng thuận.—“Cả hai đều vô tội.” (72–73)
Inda-bh 44~217Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới với gái điếm. … nt … rồi buộc phải phạm giới với người vô căn. … nt … rồi buộc phải phạm giới với nữ gia chủ. Vị tỳ khưu đã ưng thuận.—“Vị tỳ khưu nên bị trục xuất.” … (như trên) … Vị tỳ khưu đã không ưng thuận.—“Vị tỳ khưu vô tội.” (74–76)
Inda-bh 45~218Vào lúc bấy giờ, các vương tử Licchavi ở thành Vesālī đã bắt giữ vị tỳ khưu rồi buộc phải phạm giới lẫn nhau. Cả hai đã ưng thuận.—“Cả hai nên bị trục xuất.” … nt … Cả hai đã không ưng thuận.—“Cả hai đều vô tội.” (77)
Inda-bh 46~219Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ xuất gia lúc tuổi đã lớn. Vị ấy đã đi gặp người vợ cũ. Cô ấy đã níu giữ lại (nói rằng):—“Thưa ngài, hãy đến. Ngài hãy hoàn tục.” Vị tỳ khưu ấy trong lúc bước lui đã té ngửa ra. Cô ấy đã giở (y) lên rồi ngồi lên trên dương vật (vị ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: … (như trên) … “Này tỳ khưu, vị không ưng thuận thì vô tội.” (78)
Inda-bh 47~220Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ngụ ở trong rừng. Có con nai tơ đã đi đến chỗ tiểu tiện của vị ấy. Trong lúc đang uống nước tiểu, nó đã dùng miệng ngậm lấy dương vật (vị ấy). Vị tỳ khưu ấy đã ưng thuận. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc, rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.” (79)
Dứt điều pārājika thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing expulsion
1. Thiên Ba-la-di
1. Paṭhamapārājikasikkhāpada
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Verañjakaṇḍa
Tena samayena buddho bhagavā verañjāyaṁ viharati naḷerupucimandamūle mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
1. The training rule on sexual intercourse
Homage to the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One
At Verañjā: the origin of the Monastic Law
At one time the Buddha was staying at Verañjā at the foot of Naḷeru’s Nimba tree with a large sangha of five hundred monks.
1. Điều Ba-la-di Thứ Nhất
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito verañjāyaṁ viharati naḷerupucimandamūle mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato—‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’, so imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ; kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti; sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
“Sir, the ascetic Gotama, the Sakyan, who has gone forth from the Sakyan clan, is staying at Verañjā at the foot of Naleru’s Nimba tree with a large sangha of five hundred monks. That good Gotama has a fine reputation: ‘He is a Buddha, perfected and fully awakened, complete in insight and conduct, happy, knower of the world, supreme leader of trainable people, teacher of gods and humans, awakened, a Buddha. With his own insight he has seen this world with its gods, its lords of death, and its supreme beings, this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, and he makes it known to others. He has a Teaching that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end. It has a true goal and is well articulated. He sets out a perfectly complete and pure spiritual life.’ It’s good to see such perfected ones.”
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Verañjā, dưới gốc cây nimba của Naleru, cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị. Vị Bà-la-môn ở Verañjā đã được nghe như sau: “Thưa các ngài, nghe nói rằng sa-môn Gotama, là Thích tử, đã xuất gia từ dòng dõi Sakya, đang trú tại Verañjā, dưới gốc cây nimba của Naleru, cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị. Tiếng lành đồn xa về tôn giả Gotama ấy được lan truyền như sau: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết về thế giới này gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với các chúng sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; vị ấy trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch. Thật tốt lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như thế.’”
Atha kho verañjo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho verañjo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca—
“sutaṁ metaṁ, bho gotama—‘na samaṇo gotamo brāhmaṇe jiṇṇe vuḍḍhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimantetī’ti. Tayidaṁ, bho gotama, tatheva? Na hi bhavaṁ gotamo brāhmaṇe jiṇṇe vuḍḍhe mahallake addhagate vayoanuppatte abhivādeti vā paccuṭṭheti vā āsanena vā nimanteti? Tayidaṁ, bho gotama, na sampannamevā”ti.
That brahmin then went to the Buddha, exchanged pleasantries with him, sat down, and said,
“I’ve heard, good Gotama, that you don’t bow down to old brahmins, stand up for them, or offer them a seat. I’ve now seen that this is indeed the case. This isn’t right.”
2. Rồi vị Bà-la-môn ở Verañjā đi đến nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, đã cùng đức Thế Tôn chào hỏi thăm viếng. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đã ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ở Verañjā đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Thưa tôn giả Gotama, tôi có nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy đón chào, cũng không mời ngồi các vị Bà-la-môn già cả, cao niên, lão thành, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều.’ Thưa tôn giả Gotama, điều đó có đúng như vậy không? Vì tôn giả Gotama không đảnh lễ, không đứng dậy đón chào, cũng không mời ngồi các vị Bà-la-môn già cả, cao niên, lão thành, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều? Thưa tôn giả Gotama, việc ấy là không đúng đắn.”
“Nāhaṁ taṁ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yamahaṁ abhivādeyyaṁ vā paccuṭṭheyyaṁ vā āsanena vā nimanteyyaṁ. Yañhi, brāhmaṇa, tathāgato abhivādeyya vā paccuṭṭheyya vā āsanena vā nimanteyya, muddhāpi tassa vipateyyā”ti.
“Brahmin, in the world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, I don’t see anyone I should bow down to, rise up for, or offer a seat. If I did, their head would explode.”
“Này Bà-la-môn, Ta không thấy một ai trong thế giới này gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với các chúng sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, mà Ta nên đảnh lễ, hoặc đứng dậy đón chào, hoặc mời ngồi. Vì này Bà-la-môn, nếu Như Lai đảnh lễ, hoặc đứng dậy đón chào, hoặc mời ngồi một người nào, đầu của người ấy cũng sẽ vỡ tan.”
“Arasarūpo bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘arasarūpo samaṇo gotamo’ti. Ye te, brāhmaṇa, rūparasā saddarasā gandharasā rasarasā phoṭṭhabbarasā, te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘arasarūpo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama lacks taste.”
“There’s a way you could rightly say that I lack taste. For I’ve abandoned the taste for forms, sounds, smells, flavors, and touches. I’ve cut it off at the root, made it like a palm stump, eradicated it, and made it incapable of reappearing in the future. But that’s not what you had in mind.”
3. “Tôn giả Gotama là người vô vị.” “Này Bà-la-môn, có một phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người vô vị.’ Này Bà-la-môn, những vị của sắc, vị của thanh, vị của hương, vị của vị, vị của xúc, đã được Như Lai từ bỏ, cắt đứt tận gốc, làm cho như cây tala bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người vô vị,’ nhưng không phải là điều mà ông đang nhắm đến để nói.”
“Nibbhogo bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘nibbhogo samaṇo gotamo’ti. Ye te, brāhmaṇa, rūpabhogā saddabhogā gandhabhogā rasabhogā phoṭṭhabbabhogā, te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘nibbhogo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama has no enjoyment.”
“There’s a way you could rightly say that I have no enjoyment. For I’ve abandoned the enjoyment of forms, sounds, smells, flavors, and touches. I’ve cut it off at the root, made it like a palm stump, eradicated it, and made it incapable of reappearing in the future. But that’s not what you had in mind.”
4. “Tôn giả Gotama là người không hưởng thụ.” “Này Bà-la-môn, có một phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người không hưởng thụ.’ Này Bà-la-môn, những sự hưởng thụ sắc, hưởng thụ thanh, hưởng thụ hương, hưởng thụ vị, hưởng thụ xúc, đã được Như Lai từ bỏ, cắt đứt tận gốc, làm cho như cây tala bị chặt ngọn, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người không hưởng thụ,’ nhưng không phải là điều mà ông đang nhắm đến để nói.”
“Akiriyavādo bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘akiriyavādo samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, akiriyaṁ vadāmi kāyaduccaritassa vacīduccaritassa manoduccaritassa. Anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ akiriyaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘akiriyavādo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama teaches inaction.”
“There’s a way you could rightly say that I teach inaction. For I teach the non-doing of misconduct by body, speech, and mind. I teach the non-doing of the various kinds of bad, unwholesome actions. But that’s not what you had in mind.”
5. “Tôn giả Gotama là người chủ trương không hành động.” “Này Bà-la-môn, có một phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động.’ Vì này Bà-la-môn, Ta thuyết về sự không hành động đối với thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Ta thuyết về sự không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động,’ nhưng không phải là điều mà ông đang nhắm đến để nói.”
“Ucchedavādo bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘ucchedavādo samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, ucchedaṁ vadāmi rāgassa dosassa mohassa. Anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ ucchedaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘ucchedavādo samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama is an annihilationist.”
“There’s a way you could rightly say that I’m an annihilationist. For I teach the annihilation of sensual desire, ill will, and confusion. I teach the annihilation of the various kinds of bad, unwholesome qualities. But that’s not what you had in mind.”
6. “Tôn giả Gotama là người chủ trương đoạn diệt.” “Này Bà-la-môn, có một phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt.’ Vì này Bà-la-môn, Ta thuyết về sự đoạn diệt tham, sân, si. Ta thuyết về sự đoạn diệt nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt,’ nhưng không phải là điều mà ông đang nhắm đến để nói.”
“Jegucchī bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘jegucchī samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, jigucchāmi kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena. Anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā jigucchāmi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘jegucchī samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama is disgusting.”
“There’s a way you could rightly say that I’m disgusting. For I am disgusted by misconduct by body, speech, and mind. I am disgusted by the various kinds of bad, unwholesome qualities. But that’s not what you had in mind.”
7. “Tôn giả Gotama là người hay ghê tởm.” “Này Bà-la-môn, có một phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm.’ Vì này Bà-la-môn, Ta ghê tởm thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Ta ghê tởm sự thành tựu các loại pháp ác, bất thiện. Này Bà-la-môn, đây là phương diện mà nếu nói theo đó một cách đúng đắn thì có thể nói về Ta rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm,’ nhưng không phải là điều mà ông đang nhắm đến để nói.”
“Venayiko bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘venayiko samaṇo gotamo’ti. Ahañhi, brāhmaṇa, vinayāya dhammaṁ desemi rāgassa dosassa mohassa. Anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ vinayāya dhammaṁ desemi. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘venayiko samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama is an exterminator.”
“There’s a way you could rightly say that I’m an exterminator. For I teach the extermination of sensual desire, ill will, and confusion. I teach the extermination of the various kinds of bad, unwholesome qualities. But that’s not what you had in mind.”
8. “Tôn giả Gotama là người chủ trương hủy diệt?” – “Này Bà-la-môn, có trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt.’ Này Bà-la-môn, Như Lai thuyết pháp về sự hủy diệt tham, sân, và si. Như Lai thuyết pháp về sự hủy diệt các pháp ác bất thiện đa dạng. Này Bà-la-môn, đây là trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hủy diệt.’ Tuy nhiên, điều ấy không phải là điều mà ông đang đề cập đến.”
“Tapassī bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘tapassī samaṇo gotamo’ti. Tapanīyāhaṁ, brāhmaṇa, pāpake akusale dhamme vadāmi, kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ. Yassa kho, brāhmaṇa, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā tamahaṁ tapassīti vadāmi. Tathāgatassa kho, brāhmaṇa, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘tapassī samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesī”ti.
“Good Gotama is austere.”
“There’s a way you could rightly say that I’m austere. For I say that bad, unwholesome qualities—misconduct by body, speech, and mind—are to be disciplined. One who has abandoned them, cut them off at the root, made them like a palm stump, eradicated them, and made them incapable of reappearing in the future—such a one I call austere. Now I’ve abandoned the bad, unwholesome qualities that are to be disciplined. I’ve cut them off at the root, made them like a palm stump, eradicated them, and made them incapable of reappearing in the future. But that’s not what you had in mind.”
9. “Tôn giả Gotama là người khổ hạnh?” – “Này Bà-la-môn, có trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh.’ Này Bà-la-môn, Như Lai tuyên bố rằng các pháp ác bất thiện là đáng bị thiêu đốt, tức là thân ác hành, khẩu ác hành, và ý ác hành. Này Bà-la-môn, người nào đã đoạn trừ các pháp ác bất thiện đáng bị thiêu đốt, đã nhổ bật gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai, Như Lai gọi người ấy là người khổ hạnh. Này Bà-la-môn, đối với Như Lai, các pháp ác bất thiện đáng bị thiêu đốt đã được đoạn trừ, đã được nhổ bật gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh.’ Tuy nhiên, điều ấy không phải là điều mà ông đang đề cập đến.”
“Apagabbho bhavaṁ gotamo”ti?
“Atthi khvesa, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘apagabbho samaṇo gotamo’ti. Yassa kho, brāhmaṇa, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā tamahaṁ apagabbhoti vadāmi. Tathāgatassa kho, brāhmaṇa, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, brāhmaṇa, pariyāyo yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—‘apagabbho samaṇo gotamo’ti, no ca kho yaṁ tvaṁ sandhāya vadesi.
“Good Gotama is retiring.”
“There’s a way you could rightly say that I’m retiring. For one who has retired from any future conception in a womb, any rebirth in a future life, who has cut it off at the root, made it like a palm stump, eradicated it, and made it incapable of reappearing in the future—such a one I call retiring. Now I’ve retired from any future conception in a womb, any rebirth in a future life. I’ve cut it off at the root, made it like a palm stump, eradicated it, and made it incapable of reappearing in the future. But that’s not what you had in mind.
10. “Tôn giả Gotama là người không tái sanh?” – “Này Bà-la-môn, có trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người không tái sanh.’ Này Bà-la-môn, người nào đã đoạn trừ việc nằm trong bào thai và tái sanh trong tương lai, đã nhổ bật gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai, Như Lai gọi người ấy là người không tái sanh. Này Bà-la-môn, đối với Như Lai, việc nằm trong bào thai và tái sanh trong tương lai đã được đoạn trừ, đã được nhổ bật gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đây là trường hợp mà nếu nói một cách đúng đắn về Như Lai thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người không tái sanh.’ Tuy nhiên, điều ấy không phải là điều mà ông đang đề cập đến.”
Seyyathāpi, brāhmaṇa, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni. Yo nu kho tesaṁ kukkuṭacchāpakānaṁ paṭhamataraṁ pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyya, kinti svāssa vacanīyo—‘jeṭṭho vā kaniṭṭho vā’”ti?
“Jeṭṭhotissa, bho gotama, vacanīyo. So hi nesaṁ jeṭṭho hotī”ti.
“Evameva kho ahaṁ, brāhmaṇa, avijjāgatāya pajāya aṇḍabhūtāya pariyonaddhāya avijjaṇḍakosaṁ padāletvā ekova loke anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho. Svāhaṁ, brāhmaṇa, jeṭṭho seṭṭho lokassa.
Suppose, brahmin, there was a hen with eight, ten, or twelve eggs, which she had properly covered, warmed, and incubated. The first chick that hatches safely—after piercing through the eggshell with its claw or its beak—is it to be called the eldest or the youngest?”
“It’s to be called the eldest, for it’s the eldest among them.”
“Just so, in this deluded society, enveloped like an egg, I alone in the world have cracked the shell of delusion and reached the supreme full awakening. I, brahmin, am the world’s eldest and best.
11. “Này Bà-la-môn, ví như một con gà mái có tám, mười, hoặc mười hai quả trứng. Những quả trứng ấy được gà mái ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, và chăm sóc đúng cách. Trong số những con gà con ấy, con nào dùng móng chân hoặc mỏ mổ vỡ vỏ trứng đầu tiên và chui ra an toàn, nó nên được gọi là gì – con trưởng hay con út?” – “Thưa Tôn giả Gotama, nó nên được gọi là con trưởng. Vì nó là con trưởng trong số chúng.” – “Cũng vậy, này Bà-la-môn, đối với chúng sanh đang chìm trong vô minh, giống như quả trứng, bị bao bọc, Như Lai là người duy nhất đã phá vỡ vỏ trứng vô minh và chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác trong thế gian. Do đó, này Bà-la-môn, Như Lai là bậc trưởng thượng, bậc tối thắng trong thế gian.”
Āraddhaṁ kho pana me, brāhmaṇa, vīriyaṁ ahosi asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ. So kho ahaṁ, brāhmaṇa, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsiṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedesiṁ, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsiṁ.
I was firmly energetic and had clarity of mindfulness; my body was tranquil and my mind stilled and unified. Fully secluded from the five senses, secluded from unwholesome mental qualities, I entered and remained in the first absorption, which has movement of the mind, as well as the joy and bliss of seclusion. Through the stilling of the movement of the mind, I entered and remained in the second absorption, which has internal confidence and unification of mind, as well as the joy and bliss of stillness. Through the fading away of joy, I remained even-minded, mindful, and fully aware, experiencing bliss directly, and I entered and remained in the third absorption of which the noble ones declare: ‘You are even-minded, mindful, and abide in bliss.’ Through the abandoning of bliss and pain and the earlier ending of joy and aversion, I entered and remained in the fourth absorption, which has neither pain nor bliss, but consists of purity of mindfulness and even-mindedness.
“Này Bà-la-môn, tinh tấn của Như Lai đã được khơi dậy, không thụ động; niệm được thiết lập, không quên lãng; thân được khinh an, không dao động; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này Bà-la-môn, Như Lai ly dục, ly các pháp bất thiện, đã chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, Như Lai đã chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Do ly hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú,’ đã chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, và diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước kia, Như Lai đã chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.”
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi, jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe—‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto; so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhappaṭisaṁvedī evamāyupariyanto; so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā paṭhame yāme paṭhamā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, paṭhamābhinibbhidā ahosi kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
Then, with my mind stilled, purified, cleansed, flawless, free from defilements, supple, wieldy, steady, and unshakable, I directed it to the knowledge that consists of recollecting past lives. I recollected many past lives, that is, one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births; many eons of world dissolution, many eons of world evolution, and many eons of both dissolution and evolution. And I knew: ‘There I had such a name, such a family, such an appearance, such food, such an experience of pleasure and pain, and such a lifespan. Passing away from there, I was reborn elsewhere, and there I had such a name, such a family, such an appearance, such food, such an experience of pleasure and pain, and such a lifespan. Passing away from there, I was reborn here.’ In this way I recollected many past lives with their characteristics and particulars. This was the first true insight, which I attained in the first part of the night. Delusion was dispelled and true insight arose, darkness was dispelled and light arose, as happens to one who is heedful, energetic, and diligent. This, brahmin, was my first breaking out, like a chick from an eggshell.
12. Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta hướng tâm đến Túc Mạng Minh. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp, nhiều thành hoại kiếp. ‘Tại nơi kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này’. Từ chỗ đó chết, Ta sanh vào nơi kia. Tại đấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Từ chỗ đó chết, Ta sanh vào đây’. Như vậy, Ta nhớ lại các đời sống quá khứ một cách đa dạng cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà la môn, đó là minh thứ nhất Ta đã chứng được trong canh đầu, vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà la môn, đó là sự phá vỡ (vỏ trứng vô minh) lần thứ nhất của Ta, như con gà con phá vỡ vỏ trứng.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāmi—‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte pajānāmi. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā majjhime yāme dutiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, dutiyābhinibbhidā ahosi kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
Then, with my mind stilled, purified, cleansed, flawless, free from defilements, supple, wieldy, steady, and unshakable, I directed it to the knowledge of the passing away and arising of beings. With superhuman and purified clairvoyance, I saw beings passing away and getting reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, gone to good destinations and to bad destinations, and I understood how beings pass on according to their actions: ‘These beings who engaged in misconduct by body, speech, and mind, who abused the noble ones, who had wrong views and acted accordingly, at the breaking up of the body after death, have been reborn in a lower realm, a bad destination, a world of misery, hell. But these beings who engaged in good conduct of body, speech, and mind, who did not abuse the noble ones, who held right view and acted accordingly, at the breaking up of the body after death, have been reborn in a good destination, a heaven world.’ In this way, with superhuman and purified clairvoyance, I saw beings passing away and getting reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, gone to good destinations and to bad destinations, and I understood how beings pass on according to their actions. This was the second true insight, which I attained in the middle part of the night. Delusion was dispelled and true insight arose, darkness was dispelled and light arose, as happens to one who is heedful, energetic, and diligent. This, brahmin, was my second breaking out, like a chick from an eggshell.
13. Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta hướng tâm đến Sanh Tử Minh. Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, thiện thú và ác thú. Ta biết rõ rằng chúng sanh đi theo nghiệp của họ: ‘Chắc chắn những chúng sanh này, thưa quý vị, đã làm những ác hạnh về thân, khẩu, ý, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, và hành động theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này, thưa quý vị, đã làm những thiện hạnh về thân, khẩu, ý, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, và hành động theo chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi lành, thiên giới’. Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy các chúng sanh chết đi và sanh lại, hèn hạ và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, thiện thú và ác thú. Ta biết rõ rằng chúng sanh đi theo nghiệp của họ. Này Bà la môn, đó là minh thứ hai Ta đã chứng được trong canh giữa, vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà la môn, đó là sự phá vỡ (vỏ trứng vô minh) lần thứ hai của Ta, như con gà con phá vỡ vỏ trứng.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmesiṁ. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ; ‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ. Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, rattiyā pacchime yāme tatiyā vijjā adhigatā, avijjā vihatā, vijjā uppannā, tamo vihato, āloko uppanno—yathā taṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato. Ayaṁ kho me, brāhmaṇa, tatiyābhinibbhidā ahosi—kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā”ti.
Then, with my mind stilled, purified, cleansed, flawless, free from defilements, supple, wieldy, steady, and unshakable, I directed it to the knowledge of the ending of the corruptions. I knew according to reality: ‘This is suffering;’ ‘This is the origin of suffering;’ ‘This is the end of suffering;’ ‘This is the path leading to the end of suffering.’ I knew according to reality: ‘These are the corruptions;’ ‘This is the origin of the corruptions;’ ‘This is the end of the corruptions;’ ‘This is the path leading to the end of the corruptions.’ When I knew and saw this, my mind was freed from the corruption of worldly desire, from the corruption of desire to exist, and from the corruption of delusion. When it was freed, I knew it was freed. I understood that birth had come to an end, the spiritual life had been fulfilled, the job had been done, there was no further state of existence. This was the third true insight, which I attained in the last part of the night. Delusion was dispelled and true insight arose, darkness was dispelled and light arose, as happens to one who is heedful, energetic, and diligent. This, brahmin, was my third breaking out, like a chick from an eggshell.”
14. Khi tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, Ta hướng tâm đến Lậu Tận Minh. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là Khổ’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là Khổ tập’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là Khổ diệt’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến Khổ diệt’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Ta biết rõ như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Nhờ biết và thấy như vậy, tâm của Ta được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Khi được giải thoát, trí khởi lên trong Ta: ‘Ta đã được giải thoát’. Ta biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này Bà la môn, đó là minh thứ ba Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh bị diệt trừ, minh được sanh khởi; bóng tối bị diệt trừ, ánh sáng được sanh khởi, cũng như đối với người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà la môn, đó là sự phá vỡ (vỏ trứng vô minh) lần thứ ba của Ta, như con gà con phá vỡ vỏ trứng.
Evaṁ vutte, verañjo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca—
“jeṭṭho bhavaṁ gotamo, seṭṭho bhavaṁ gotamo. Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ. Adhivāsetu ca me bhavaṁ gotamo verañjāyaṁ vassāvāsaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho verañjo brāhmaṇo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
That brahmin then said to the Buddha,
“Good Gotama is the eldest! Good Gotama is the best! Wonderful, good Gotama, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. Good Gotama, I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life. And please consent to spend the rainy-season residence at Verañjā together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by keeping silent, and the brahmin understood. He then got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
15. Khi được nói như vậy, bà-la-môn Verañja bạch với đức Thế Tôn lời này: ‘Tôn giả Gotama là bậc tối thượng! Tôn giả Gotama là bậc cao cả! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy các sắc, cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và mong Tôn giả Gotama cùng với Tỳ-khưu Tăng nhận lời an cư mùa mưa của con tại Verañjā.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Bấy giờ, bà-la-môn Verañja, sau khi biết được sự chấp thuận của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Tena kho pana samayena verañjā dubbhikkhā hoti dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Tena kho pana samayena uttarāpathakā assavāṇijā pañcamattehi assasatehi verañjaṁ vassāvāsaṁ upagatā honti. Tehi assamaṇḍalikāsu bhikkhūnaṁ patthapatthapulakaṁ paññattaṁ hoti.
Bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya verañjaṁ piṇḍāya pavisitvā piṇḍaṁ alabhamānā assamaṇḍalikāsu piṇḍāya caritvā patthapatthapulakaṁ ārāmaṁ āharitvā udukkhale koṭṭetvā koṭṭetvā paribhuñjanti. Āyasmā panānando patthapulakaṁ silāyaṁ pisitvā bhagavato upanāmeti. Taṁ bhagavā paribhuñjati.
At that time Verañjā was short of food and afflicted with hunger, with crops affected by whiteheads and turned to straw. It was not easy to get by on almsfood. Just then some horse dealers from Uttarāpatha had entered the rainy-season residence at Verañjā with five hundred horses. In the horse pen they prepared portion upon portion of steamed grain for the monks.
Then, after robing up in the morning, the monks took their bowls and robes and entered Verañjā for alms. Not getting anything, they went to the horse pen. They then brought back many portions of steamed grain to the monastery, where they pounded and ate them. Venerable Ānanda crushed a portion on a stone, took it to the Buddha, and the Buddha ate it.
16. Vào lúc bấy giờ, xứ Verañjā bị nạn đói, khó kiếm sống, (dân chúng) chỉ còn xương trắng, phải sống bằng phiếu thực phẩm, không dễ gì sống bằng cách đi khất thực. Cũng vào lúc bấy giờ, các thương nhân buôn ngựa từ xứ Uttarāpatha cùng với năm trăm con ngựa đã đến Verañjā để an cư mùa mưa. Họ đã quy định tại các chuồng ngựa rằng mỗi vị Tỳ-khưu sẽ được một đấu lúa mạch. Vào buổi sáng, các vị Tỳ-khưu đắp y, mang bát và y, vào Verañjā để khất thực, nhưng không nhận được vật thực. Các vị bèn đi khất thực tại các chuồng ngựa, nhận được mỗi vị một đấu lúa mạch, mang về tu viện, giã trong cối rồi dùng. Còn Tôn giả Ānanda thì nghiền đấu lúa mạch trên một phiến đá rồi dâng lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã dùng món ấy.
Assosi kho bhagavā udukkhalasaddaṁ. Jānantāpi tathāgatā pucchanti, jānantāpi na pucchanti; kālaṁ viditvā pucchanti, kālaṁ viditvā na pucchanti; atthasaṁhitaṁ tathāgatā pucchanti, no anatthasaṁhitaṁ. Anatthasaṁhite setughāto tathāgatānaṁ. Dvīhi ākārehi buddhā bhagavanto bhikkhū paṭipucchanti— dhammaṁ vā desessāma, sāvakānaṁ vā sikkhāpadaṁ paññapessāmāti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho so, ānanda, udukkhalasaddo”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
“Sādhu sādhu, ānanda. Tumhehi, ānanda, sappurisehi vijitaṁ. Pacchimā janatā sālimaṁsodanaṁ atimaññissatī”ti.
And the Buddha heard the sound of the mortar. When Buddhas know what is going on, sometimes they ask and sometimes not. They know the right time to ask and when not to ask. Buddhas ask when it is beneficial, otherwise not, for Buddhas are incapable of doing what is unbeneficial. Buddhas question the monks for two reasons: to give a teaching or to lay down a training rule.
And so he said to Ānanda, “Ānanda, what’s this sound of a mortar?” Ānanda told him what was happening.
“Well done, Ānanda. You’re all superior people who have conquered the problems of famine. Later generations will despise even meat and rice.”
Đức Thế Tôn nghe được tiếng cối giã. Các đấng Như Lai, dù biết vẫn hỏi, dù biết vẫn không hỏi; biết đúng thời mới hỏi, biết đúng thời mới không hỏi; các đấng Như Lai hỏi điều gì có lợi ích, không hỏi điều gì không có lợi ích. Đối với những gì không có lợi ích, các đấng Như Lai đã có đê ngăn. Chư Phật, chư Thế Tôn hỏi các vị Tỳ-khưu vì hai lý do: ‘Ta sẽ thuyết Pháp, hoặc Ta sẽ chế định học giới cho các đệ tử.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, tiếng cối giã kia là gì vậy?’ Bấy giờ, Tôn giả Ānanda trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ‘Lành thay, lành thay, Ānanda! Này Ānanda, các bậc chân nhân như các ngươi đã chiến thắng. Thế hệ mai sau sẽ xem thường cả cơm nấu bằng gạo thơm với thịt.’
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca—
“etarahi, bhante, verañjā dubbhikkhā dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā. Na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Imissā, bhante, mahāpathaviyā heṭṭhimatalaṁ sampannaṁ—seyyathāpi khuddamadhuṁ anīlakaṁ; evamassādaṁ. Sādhāhaṁ, bhante, pathaviṁ parivatteyyaṁ. Bhikkhū pappaṭakojaṁ paribhuñjissantī”ti.
“Ye pana te, moggallāna, pathavinissitā pāṇā te kathaṁ karissasī”ti?
“Ekāhaṁ, bhante, pāṇiṁ abhinimminissāmi—seyyathāpi mahāpathavī. Ye pathavinissitā pāṇā te tattha saṅkāmessāmi. Ekena hatthena pathaviṁ parivattessāmī”ti.
“Alaṁ, moggallāna, mā te rucci pathaviṁ parivattetuṁ. Vipallāsampi sattā paṭilabheyyun”ti.
“Sādhu, bhante, sabbo bhikkhusaṅgho uttarakuruṁ piṇḍāya gaccheyyā”ti.
“Alaṁ, moggallāna, mā te rucci sabbassa bhikkhusaṅghassa uttarakuruṁ piṇḍāya gamanan”ti.
Then Venerable Mahāmoggallāna went to the Buddha, bowed, sat down, and said,
“At present, sir, Verañjā is short of food and afflicted with hunger, with crops affected by whiteheads and turned to straw. It’s not easy to get by on almsfood. But the undersurface of this great earth abounds with food, tasting just like pure honey. Would it be good, sir, if I inverted the earth so that the monks may enjoy the nutrition in that ground fungus?”
“But what will you do, Moggallāna, with the creatures that live there?”
“I’ll transform one hand to be like the great earth and make those creatures go there. I’ll then invert the earth with the other hand.”
“Let it be, Moggallāna, don’t invert the earth. Those creatures might lose their minds.”
“In that case, sir, would it be good if the whole Sangha of monks could go to Uttarakuru for alms?”
“Let it be, Moggallāna, don’t pursue this.”
17. Bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Mahā Moggallāna bạch với đức Thế Tôn lời này: ‘Bạch Thế Tôn, hiện nay xứ Verañjā bị nạn đói, khó kiếm sống, (dân chúng) chỉ còn xương trắng, phải sống bằng phiếu thực phẩm. Không dễ gì sống bằng cách đi khất thực. Bạch Thế Tôn, lớp đất bên dưới của đại địa này rất màu mỡ — ngọt ngon như mật ong nguyên chất không có ong non. Lành thay, bạch Thế Tôn, con sẽ lật ngược quả đất lại. Các vị Tỳ-khưu sẽ được dùng lớp đất màu mỡ.’ ‘Này Moggallāna, còn những chúng sanh sống nương vào đất, ngươi sẽ làm gì với chúng?’ ‘Bạch Thế Tôn, con sẽ hóa hiện một bàn tay — lớn như đại địa. Những chúng sanh nào sống nương vào đất, con sẽ dời chúng qua đó. Với bàn tay kia, con sẽ lật ngược quả đất lại.’ ‘Thôi đi, Moggallāna, ngươi chớ có ý muốn lật ngược quả đất. Chúng sanh có thể bị điên loạn nhận thức.’ ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, xin cho toàn thể Tỳ-khưu Tăng đi đến xứ Uttarakuru để khất thực.’ ‘Thôi đi, Moggallāna, ngươi chớ có ý muốn cho toàn thể Tỳ-khưu Tăng đi đến xứ Uttarakuru để khất thực.’
Atha kho āyasmato sāriputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“katamesānaṁ kho buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosi; katamesānaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti?
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—‘katamesānaṁ kho buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosi, katamesānaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī’ti. Katamesānaṁ nu kho, bhante, buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosi, katamesānaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti?
Soon afterwards, while reflecting in private, Venerable Sāriputta thought, “Which Buddhas had a long-lasting spiritual life, and which not?”
In the evening, after coming out of seclusion, Sāriputta went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Just now, sir, while I was reflecting in private, I was wondering which Buddhas had a long-lasting spiritual life, and which not.”
18. Bấy giờ, khi Tôn giả Sāriputta đang ở một mình nơi thanh vắng, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm ngài: ‘Phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?’ Bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi nơi độc cư, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với đức Thế Tôn lời này: ‘Bạch Thế Tôn, tại đây, khi con đang ở một mình nơi thanh vắng, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm con: “Phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài? Phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?” Bạch Thế Tôn, vậy phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã không tồn tại lâu dài, và phạm hạnh của những đức Phật, đức Thế Tôn nào đã tồn tại lâu dài?’
“Bhagavato ca, sāriputta, vipassissa bhagavato ca sikhissa bhagavato ca vessabhussa brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosi. Bhagavato ca, sāriputta, kakusandhassa bhagavato ca koṇāgamanassa bhagavato ca kassapassa brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti.
“Sāriputta, the spiritual life established by the Buddhas Vipassī, Sikhī, and Vessabhū didn’t last long. But the spiritual life established by the Buddhas Kakusandha, Konāgamana, and Kassapa did.”
Này Sāriputta, phạm hạnh của đức Thế Tôn Vipassī, của đức Thế Tôn Sikhī, và của đức Thế Tôn Vessabhū đã không được tồn tại lâu dài. Này Sāriputta, phạm hạnh của đức Thế Tôn Kakusandha, của đức Thế Tôn Koṇāgamana, và của đức Thế Tôn Kassapa đã được tồn tại lâu dài.
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo, yena bhagavato ca vipassissa bhagavato ca sikhissa bhagavato ca vessabhussa brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti?
“Bhagavā ca, sāriputta, vipassī bhagavā ca sikhī bhagavā ca vessabhū kilāsuno ahesuṁ sāvakānaṁ vitthārena dhammaṁ desetuṁ. Appakañca nesaṁ ahosi suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthā udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ. Apaññattaṁ sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ. Anuddiṭṭhaṁ pātimokkhaṁ. Tesaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ antaradhānena buddhānubuddhānaṁ sāvakānaṁ antaradhānena ye te pacchimā sāvakā nānānāmā nānāgottā nānājaccā nānākulā pabbajitā te taṁ brahmacariyaṁ khippaññeva antaradhāpesuṁ. Seyyathāpi, sāriputta, nānāpupphāni phalake nikkhittāni suttena asaṅgahitāni tāni vāto vikirati vidhamati viddhaṁseti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ suttena asaṅgahitattā. Evameva kho, sāriputta, tesaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ antaradhānena buddhānubuddhānaṁ sāvakānaṁ antaradhānena ye te pacchimā sāvakā nānānāmā nānāgottā nānājaccā nānākulā pabbajitā te taṁ brahmacariyaṁ khippaññeva antaradhāpesuṁ.
“And why did the spiritual life established by the former three Buddhas not last long?”
“They made no effort to give detailed teachings to their disciples. They gave few discourses in prose or in mixed prose and verse; few expositions, verses, heartfelt exclamations, quotations, birth stories, amazing accounts, and analyses. Nor did they lay down training rules or recite a monastic code. After the disappearance of those Buddhas and the disciples awakened under them, those who were the last disciples—of various names, families, and castes, who had gone forth from various households—allowed that spiritual life to disappear rapidly. It’s like flowers on a wooden plank. If they’re not held together with a string, they’re scattered about, whirled about, and destroyed by the wind. Why? Because they’re not held together with a string. Just so, after the disappearance of those Buddhas and the disciples awakened under them, those who were the last disciples allowed that spiritual life to disappear rapidly.
19. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà phạm hạnh của đức Thế Tôn Vipassī, của đức Thế Tôn Sikhī, và của đức Thế Tôn Vessabhū đã không được tồn tại lâu dài? Này Sāriputta, đức Thế Tôn Vipassī, đức Thế Tôn Sikhī, và đức Thế Tôn Vessabhū đã ngần ngại trong việc thuyết giảng giáo pháp một cách rộng rãi cho các vị đệ tử. Kinh (sutta), ứng tụng (geyya), ký thuyết (veyyākaraṇa), kệ ngôn (gāthā), cảm hứng ngữ (udāna), như thị thuyết (itivuttaka), bổn sanh (jātaka), vị tằng hữu pháp (abbhutadhamma), và phương quảng (vedalla) của các ngài chỉ có số lượng ít. Học giới đã không được chế định cho các vị đệ tử. Giới bổn Pātimokkha đã không được tuyên đọc. Sau khi các vị Phật, các bậc Thế Tôn ấy nhập diệt, và sau khi các vị đệ tử đã giác ngộ theo chư Phật nhập diệt, những vị đệ tử về sau, có nhiều tên gọi khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau, nhiều giai cấp khác nhau, xuất gia từ nhiều gia đình khác nhau, họ đã làm cho phạm hạnh ấy nhanh chóng biến mất. Này Sāriputta, ví như nhiều loại hoa khác nhau được đặt trên một tấm ván, không được kết lại bằng một sợi chỉ, gió sẽ làm chúng tung tóe, thổi bay, và làm tan tác. Vì sao vậy? Vì chúng không được kết lại bằng một sợi chỉ. Cũng vậy, này Sāriputta, sau khi các vị Phật, các bậc Thế Tôn ấy nhập diệt, và sau khi các vị đệ tử đã giác ngộ theo chư Phật nhập diệt, những vị đệ tử về sau, có nhiều tên gọi khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau, nhiều giai cấp khác nhau, xuất gia từ nhiều gia đình khác nhau, họ đã làm cho phạm hạnh ấy nhanh chóng biến mất.
Akilāsuno ca te bhagavanto ahesuṁ sāvake cetasā ceto paricca ovadituṁ. Bhūtapubbaṁ, sāriputta, vessabhū bhagavā arahaṁ sammāsambuddho aññatarasmiṁ bhiṁsanake vanasaṇḍe sahassaṁ bhikkhusaṅghaṁ cetasā ceto paricca ovadati anusāsati—‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasikarotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti. Atha kho, sāriputta, tassa bhikkhusahassassa vessabhunā bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānānaṁ evaṁ anusāsiyamānānaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu. Tatra sudaṁ, sāriputta, bhiṁsanakassa vanasaṇḍassa bhiṁsanakatasmiṁ hoti—yo koci avītarāgo taṁ vanasaṇḍaṁ pavisati, yebhuyyena lomāni haṁsanti. Ayaṁ kho, sāriputta, hetu ayaṁ paccayo yena bhagavato ca vipassissa bhagavato ca sikhissa bhagavato ca vessabhussa brahmacariyaṁ na ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti.
Instead they were untiring at instructing their disciples by reading their minds. At one time, Sāriputta, the Buddha Vessabhū, the Perfected and the fully Awakened One, was staying in a certain frightening forest grove. He instructed a sangha of a thousand monks by reading their minds, saying, ‘Think like this, not like that; pay attention like this, not like that; abandon this and attain that.’ When they had been instructed by Buddha Vessabhū, their minds were freed from the corruptions through letting go. But if anyone with sensual desire entered that frightening forest grove, they usually had goosebumps all over. This is why the spiritual life established by those Buddhas did not last long.”
Và các bậc Thế Tôn ấy đã không ngần ngại trong việc giáo huấn các vị đệ tử bằng cách dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của họ. Này Sāriputta, thuở xưa, đức Thế Tôn Vessabhū, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, ở trong một khu rừng đáng sợ nọ, đã giáo huấn, chỉ dạy một ngàn vị tỳ-khưu trong Tăng chúng bằng cách dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của họ rằng: ‘Hãy suy tư như thế này, đừng suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia; hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu điều này rồi an trú.’ Khi ấy, này Sāriputta, một ngàn vị tỳ-khưu ấy, được đức Thế Tôn Vessabhū, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giáo huấn như vậy, chỉ dạy như vậy, tâm của các vị ấy đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Này Sāriputta, ở nơi ấy, sự đáng sợ của khu rừng đáng sợ là như thế này: bất cứ ai chưa ly tham mà đi vào khu rừng ấy, phần lớn đều dựng tóc gáy. Này Sāriputta, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà phạm hạnh của đức Thế Tôn Vipassī, của đức Thế Tôn Sikhī, và của đức Thế Tôn Vessabhū đã không được tồn tại lâu dài.
“Ko pana, bhante, hetu ko paccayo yena bhagavato ca kakusandhassa bhagavato ca koṇāgamanassa bhagavato ca kassapassa brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti?
“Bhagavā ca, sāriputta, kakusandho bhagavā ca koṇāgamano bhagavā ca kassapo akilāsuno ahesuṁ sāvakānaṁ vitthārena dhammaṁ desetuṁ. Bahuñca nesaṁ ahosi suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthā udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ, paññattaṁ sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ, uddiṭṭhaṁ pātimokkhaṁ. Tesaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ antaradhānena buddhānubuddhānaṁ sāvakānaṁ antaradhānena ye te pacchimā sāvakā nānānāmā nānāgottā nānājaccā nānākulā pabbajitā te taṁ brahmacariyaṁ ciraṁ dīghamaddhānaṁ ṭhapesuṁ. Seyyathāpi, sāriputta, nānāpupphāni phalake nikkhittāni suttena susaṅgahitāni, tāni vāto na vikirati na vidhamati na viddhaṁseti. Taṁ kissa hetu? Yathā taṁ suttena susaṅgahitattā. Evameva kho, sāriputta, tesaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ antaradhānena buddhānubuddhānaṁ sāvakānaṁ antaradhānena ye te pacchimā sāvakā nānānāmā nānāgottā nānājaccā nānākulā pabbajitā te taṁ brahmacariyaṁ ciraṁ dīghamaddhānaṁ ṭhapesuṁ. Ayaṁ kho, sāriputta, hetu ayaṁ paccayo yena bhagavato ca kakusandhassa bhagavato ca koṇāgamanassa bhagavato ca kassapassa brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ ahosī”ti.
“Why then did the spiritual life established by the latter three Buddhas last long?”
“The Buddhas Kakusandha, Konāgamana, and Kassapa were untiring in giving detailed teachings to their disciples. They gave many discourses in prose and in mixed prose and verse; many expositions, verses, heartfelt exclamations, quotations, birth stories, amazing accounts, and analyses. And they laid down training rules and recited a monastic code. After the disappearance of those Buddhas and the disciples awakened under them, those who were the last disciples—of various names, families, and castes, who had gone forth from various households—made that spiritual life last for a long time. It’s like flowers on a wooden plank. If they’re held together with a string, they’re not scattered about, whirled about, or destroyed by the wind. Why? Because they are held together with a string. Just so, after the disappearance of those Buddhas and the disciples awakened under them, those who were the last disciples made that spiritual life last for a long time. This is why the spiritual life established by those Buddhas lasted long.”
20. Bạch Thế Tôn, vậy do nhân gì, do duyên gì mà phạm hạnh của đức Thế Tôn Kakusandha, của đức Thế Tôn Koṇāgamana, và của đức Thế Tôn Kassapa đã được tồn tại lâu dài? Này Sāriputta, đức Thế Tôn Kakusandha, đức Thế Tôn Koṇāgamana, và đức Thế Tôn Kassapa đã không ngần ngại trong việc thuyết giảng giáo pháp một cách rộng rãi cho các vị đệ tử. Kinh (sutta), ứng tụng (geyya), ký thuyết (veyyākaraṇa), kệ ngôn (gāthā), cảm hứng ngữ (udāna), như thị thuyết (itivuttaka), bổn sanh (jātaka), vị tằng hữu pháp (abbhutadhamma), và phương quảng (vedalla) của các ngài có số lượng nhiều; học giới đã được chế định cho các vị đệ tử; giới bổn Pātimokkha đã được tuyên đọc. Sau khi các vị Phật, các bậc Thế Tôn ấy nhập diệt, và sau khi các vị đệ tử đã giác ngộ theo chư Phật nhập diệt, những vị đệ tử về sau, có nhiều tên gọi khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau, nhiều giai cấp khác nhau, xuất gia từ nhiều gia đình khác nhau, họ đã làm cho phạm hạnh ấy được tồn tại trong một thời gian dài, lâu xa. Này Sāriputta, ví như nhiều loại hoa khác nhau được đặt trên một tấm ván, được kết lại kỹ càng bằng một sợi chỉ, gió không làm chúng tung tóe, không thổi bay, và không làm tan tác. Vì sao vậy? Vì chúng được kết lại kỹ càng bằng một sợi chỉ. Cũng vậy, này Sāriputta, sau khi các vị Phật, các bậc Thế Tôn ấy nhập diệt, và sau khi các vị đệ tử đã giác ngộ theo chư Phật nhập diệt, những vị đệ tử về sau, có nhiều tên gọi khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau, nhiều giai cấp khác nhau, xuất gia từ nhiều gia đình khác nhau, họ đã làm cho phạm hạnh ấy được tồn tại trong một thời gian dài, lâu xa. Này Sāriputta, đây chính là nhân, đây chính là duyên mà phạm hạnh của đức Thế Tôn Kakusandha, của đức Thế Tôn Koṇāgamana, và của đức Thế Tôn Kassapa đã được tồn tại lâu dài.
Atha kho āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“etassa, bhagavā, kālo. Etassa, sugata, kālo. Yaṁ bhagavā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeyya, uddiseyya pātimokkhaṁ, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikan”ti.
“Āgamehi tvaṁ, sāriputta. Āgamehi tvaṁ, sāriputta. Tathāgatova tattha kālaṁ jānissati. Na tāva, sāriputta, satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ yāva na idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti. Yato ca kho, sāriputta, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya.
Na tāva, sāriputta, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti yāva na saṅgho rattaññumahattaṁ patto hoti. Yato ca kho, sāriputta, saṅgho rattaññumahattaṁ patto hoti atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya. Na tāva, sāriputta, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, yāva na saṅgho vepullamahattaṁ patto hoti. Yato ca kho, sāriputta, saṅgho vepullamahattaṁ patto hoti, atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya. Na tāva, sāriputta, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, yāva na saṅgho lābhaggamahattaṁ patto hoti. Yato ca kho, sāriputta, saṅgho lābhaggamahattaṁ patto hoti, atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya. Na tāva, sāriputta, idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, yāva na saṅgho bāhusaccamahattaṁ patto hoti. Yato ca kho, sāriputta, saṅgho bāhusaccamahattaṁ patto hoti, atha idhekacce āsavaṭṭhānīyā dhammā saṅghe pātubhavanti, atha satthā sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññapeti uddisati pātimokkhaṁ tesaṁyeva āsavaṭṭhānīyānaṁ dhammānaṁ paṭighātāya.
Nirabbudo hi, sāriputta, bhikkhusaṅgho nirādīnavo apagatakāḷako suddho sāre patiṭṭhito. Imesañhi, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ yo pacchimako bhikkhu so sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Sāriputta then got up from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, raised his joined palms, and said, “This is the time, venerable sir, for laying down training rules and reciting a monastic code, so that this spiritual life may last for a long time.”
“Hold on, Sāriputta. The Buddha knows the appropriate time for this. The Teacher doesn’t lay down training rules or recite a monastic code until the causes of corruption appear in the Sangha.
And they don’t appear until the Sangha has attained long standing, great size, an abundance of the best material support, or great learning. When the causes of corruption appear for any of these reasons, then the Teacher lays down training rules for his disciples and recites a monastic code in order to counteract these causes.
Sāriputta, the Sangha of monks is free from cancer and danger, stainless, pure, and established in the essence. Even the least developed of these five hundred monks is a streamenterer. They will not be reborn in the lower world, but are fixed in destiny and bound for awakening.”
21. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, đã đến lúc! Bạch Thiện Thệ, đã đến lúc! Thế Tôn nên chế định học giới cho các vị đệ tử, nên tuyên đọc Pātimokkha, để cho phạm hạnh này được trường tồn, được tồn tại lâu dài.” “Này Sāriputta, hãy chờ đã! Này Sāriputta, hãy chờ đã! Chỉ có Như Lai mới biết được thời điểm cho việc ấy. Này Sāriputta, vị Đạo Sư chưa chế định học giới, chưa tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, chừng nào ở đây trong Tăng chúng chưa phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc. Và này Sāriputta, khi nào ở đây trong Tăng chúng phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, khi ấy vị Đạo Sư mới chế định học giới, mới tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, ở đây trong Tăng chúng chưa phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến sự đông đảo về hàng trưởng lão. Và này Sāriputta, khi nào Tăng chúng đạt đến sự đông đảo về hàng trưởng lão, khi ấy ở đây trong Tăng chúng phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, khi ấy vị Đạo Sư mới chế định học giới, mới tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, ở đây trong Tăng chúng chưa phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh. Và này Sāriputta, khi nào Tăng chúng đạt đến sự lớn mạnh, khi ấy ở đây trong Tăng chúng phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, khi ấy vị Đạo Sư mới chế định học giới, mới tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, ở đây trong Tăng chúng chưa phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến sự tột đỉnh về lợi lộc. Và này Sāriputta, khi nào Tăng chúng đạt đến sự tột đỉnh về lợi lộc, khi ấy ở đây trong Tăng chúng phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, khi ấy vị Đạo Sư mới chế định học giới, mới tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, ở đây trong Tăng chúng chưa phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến sự học rộng. Và này Sāriputta, khi nào Tăng chúng đạt đến sự học rộng, khi ấy ở đây trong Tăng chúng phát sanh một số pháp là cơ sở của các lậu hoặc, khi ấy vị Đạo Sư mới chế định học giới, mới tuyên đọc Pātimokkha cho các vị đệ tử, để ngăn trừ chính các pháp là cơ sở của các lậu hoặc ấy. Này Sāriputta, Tăng chúng tỳ-khưu này không có u bướu, không có khuyết điểm, không có vết đen, trong sạch, an trú trong cốt lõi. Này Sāriputta, trong số năm trăm vị tỳ-khưu này, vị tỳ-khưu thấp nhất cũng là bậc Dự Lưu, có pháp không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“āciṇṇaṁ kho panetaṁ, ānanda, tathāgatānaṁ yehi nimantitā vassaṁ vasanti, na te anapaloketvā janapadacārikaṁ pakkamanti. Āyāmānanda, verañjaṁ brāhmaṇaṁ apalokessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena verañjassa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho verañjo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho verañjaṁ brāhmaṇaṁ bhagavā etadavoca—“nimantitamha tayā, brāhmaṇa, vassaṁvuṭṭhā, apalokema taṁ, “icchāma mayaṁ janapadacārikaṁ pakkamitun”ti.
“Saccaṁ, bho gotama, nimantitattha mayā vassaṁvuṭṭhā; api ca yo deyyadhammo so na dinno. Tañca kho no asantaṁ, nopi adātukamyatā, taṁ kutettha labbhā bahukiccā gharāvāsā bahukaraṇīyā. Adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho bhagavā verañjaṁ brāhmaṇaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho verañjo brāhmaṇo tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Then the Buddha said to Ānanda, “Ānanda, it’s the custom for Buddhas not to go wandering the country without taking leave of those who invited them to spend the rainy-season residence. Let’s go to the brahmin of Verañjā and take leave.”
“Yes, sir.”
The Buddha robed up, took his bowl and robe and, with Ānanda as his attendant, went to that brahmin’s house where he sat down on the prepared seat. The brahmin approached the Buddha, bowed, and sat down.
And the Buddha said, “Brahmin, we’ve completed the rains residence according to your invitation, and now we take leave of you. We wish to depart to wander the country.”
“It’s true, good Gotama, that you’ve completed the rains residence according to my invitation, but I haven’t given anything. That’s not good. It’s not because I didn’t want to, but because household life is so busy. Would you and the Sangha of monks please accept a meal from me tomorrow?”
The Buddha consented by keeping silent. Then, after instructing, inspiring, and gladdening that brahmin with a teaching, the Buddha got up from his seat and left.
The following morning the brahmin prepared various kinds of fine foods in his own house and then had the Buddha informed that the meal was ready.
22. Khi ấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, đây là thông lệ của các đấng Như Lai: sau khi đã được ai thỉnh mời an cư mùa mưa, các ngài không ra đi du hành trong xứ mà không cáo từ người ấy. Này Ānanda, chúng ta hãy đi, chúng ta sẽ cáo từ Bà-la-môn Verañja.” “Bạch Thế Tôn, xin vâng.” Tôn giả Ānanda đã vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, sau khi đắp y, mang theo y bát, cùng với Tôn giả Ānanda làm thị giả, đã đi đến trú xá của Bà-la-môn Verañja; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Khi ấy, Bà-la-môn Verañja đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã nói điều này với Bà-la-môn Verañja đang ngồi một bên: “Này Bà-la-môn, chúng tôi đã được ông thỉnh mời và đã an cư mùa mưa xong. Chúng tôi cáo từ ông, chúng tôi muốn ra đi du hành trong xứ.” “Thưa Tôn giả Gotama, đúng vậy, ngài đã được tôi thỉnh mời và đã an cư mùa mưa xong. Tuy nhiên, vật phẩm cúng dường nào cần được dâng cúng thì vẫn chưa được dâng cúng. Và không phải là chúng tôi không có, cũng không phải là không muốn cúng dường. Nhưng làm sao có thể được ở đây? Đời sống gia đình có nhiều công việc, nhiều phận sự. Xin Tôn giả Gotama hãy nhận lời dùng bữa ăn của tôi vào ngày mai, cùng với Tăng chúng tỳ-khưu.” Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Rồi Thế Tôn, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ Bà-la-môn Verañja bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi ấy, Bà-la-môn Verañja, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho dọn sẵn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại trú xá của mình, rồi cho người báo thời gian đến Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena verañjassa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho verañjo brāhmaṇo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ticīvarena acchādesi, ekamekañca bhikkhuṁ ekamekena dussayugena acchādesi. Atha kho bhagavā verañjaṁ brāhmaṇaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho bhagavā verañjāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā anupagamma soreyyaṁ saṅkassaṁ kaṇṇakujjaṁ yena payāgapatiṭṭhānaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā payāgapatiṭṭhāne gaṅgaṁ nadiṁ uttaritvā yena bārāṇasī tadavasari. Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena vesālī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyanti.
The Buddha robed up, took his bowl and robe and, together with the Sangha of monks, he went to that brahmin’s house where he sat down on the prepared seat. And that brahmin personally served and satisfied the Sangha of monks headed by the Buddha with various kinds of fine foods. When the Buddha had finished his meal, the brahmin gave him a set of three robes and to each monk two pieces of cloth. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, and then got up from his seat and left.
After remaining in Verañjā for as long as he liked, the Buddha traveled to Payāgapatiṭṭhāna via Soreyya, Saṅkassa, and Kaṇṇakujja. There he crossed the river Ganges and continued on to Benares. After remaining at Benares for as long as he liked, he set out wandering toward Vesālī. When he eventually arrived, he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood.
23. Rồi, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm lấy y bát, đi đến trú xá của bà-la-môn Verañja; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với chúng Tỳ khưu. Bấy giờ, bà-la-môn Verañja đã tự tay dâng cúng và làm cho chúng Tỳ khưu với đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị nói đã đủ. Sau khi đức Thế Tôn dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, vị ấy đã dâng cúng đức Thế Tôn một bộ ba y, và dâng cúng mỗi vị Tỳ khưu một cặp vải. Rồi đức Thế Tôn, sau khi dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bà-la-môn Verañja, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi đức Thế Tôn, sau khi đã an trú ở Verañjā tùy thích, không đi vào các xứ Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, đã đi đến bến Payāga; sau khi đến, ngài đã vượt sông Gaṅgā ở bến Payāga rồi đi đến Bārāṇasī. Rồi đức Thế Tôn, sau khi đã an trú ở Bārāṇasī tùy thích, đã lên đường du hành đến Vesālī. Sau khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Vesālī. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn.
Verañjabhāṇavāro niṭṭhito.
Paṭhamapārājikasikkhāpada
The section for recitation on Verañjā is finished.
1. The training rule on sexual intercourse
Phẩm Verañja, chấm dứt.
1. Sudinnabhāṇavāra
First substory: the section for recitation on Sudinna
Phẩm Sudinna
Tena kho pana samayena vesāliyā avidūre kalandagāmo nāma atthi. Tattha sudinno nāma kalandaputto seṭṭhiputto hoti. Atha kho sudinno kalandaputto sambahulehi sahāyakehi saddhiṁ vesāliṁ agamāsi kenacideva karaṇīyena. Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti. Addasa kho sudinno kalandaputto bhagavantaṁ mahatiyā parisāya parivutaṁ dhammaṁ desentaṁ nisinnaṁ. Disvānassa etadahosi—“yannūnāhampi dhammaṁ suṇeyyan”ti. Atha kho sudinno kalandaputto yena sā parisā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnassa kho sudinnassa kalandaputtassa etadahosi—“yathā yathā kho ahaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
Atha kho sā parisā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
At that time Sudinna, the son of a wealthy merchant, lived in a village called Kalanda not far from Vesālī. On one occasion Sudinna went to Vesālī on some business together with a number of friends. Just then the Buddha was seated giving a teaching, surrounded by a large gathering of people. When Sudinna saw this, he thought, “Why don’t I listen to the Teaching?” He then approached that gathering and sat down.
As he was sitting there, he thought, “The way I understand the Buddha’s Teaching, it’s not easy for one who lives at home to lead the spiritual life perfectly complete and pure as a polished conch shell. Why don’t I cut off my hair and beard, put on the ocher robes, and go forth into homelessness?”
When those people had been instructed, inspired, and gladdened by the Buddha, they got up from their seats, bowed down, circumambulated him with their right sides toward him, and left.
24. Vào lúc bấy giờ, không xa thành Vesālī có một ngôi làng tên là Kalanda. Tại đấy, có con trai của một vị trưởng giả, người làng Kalanda, tên là Sudinna. Bấy giờ, Sudinna, con trai của người làng Kalanda, cùng với nhiều bạn bè đi đến Vesālī vì một công việc nào đó. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang ngồi thuyết Pháp, có đại chúng vây quanh. Sudinna, con trai của người làng Kalanda, đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi thuyết Pháp, có đại chúng vây quanh. Sau khi thấy, vị ấy đã khởi lên ý nghĩ này: 'Giá như ta cũng được nghe Pháp!' Rồi Sudinna, con trai của người làng Kalanda, đi đến chỗ hội chúng ấy; sau khi đến, vị ấy ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna, con trai của người làng Kalanda, đã khởi lên ý nghĩ này: 'Theo như ta hiểu được lời Pháp do đức Thế Tôn giảng dạy, thật không dễ cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, giống như vỏ ốc được đánh bóng. Giá như ta cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình!' Bấy giờ, hội chúng ấy, sau khi được đức Thế Tôn dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài về phía bên phải rồi ra về.
Atha kho sudinno kalandaputto aciravuṭṭhitāya parisāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sudinno kalandaputto bhagavantaṁ etadavoca—
“yathā yathāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
“Anuññātosi pana tvaṁ, sudinna, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, anuññāto mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“Na kho, sudinna, tathāgatā ananuññātaṁ mātāpitūhi puttaṁ pabbājentī”ti.
“Sohaṁ, bhante, tathā karissāmi yathā maṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Sudinna then approached the Buddha, bowed, sat down, and told him what he had thought, adding,
“Sir, please give me the going forth.”
“But, Sudinna, do you have your parents’ permission?”
“No.”
“Buddhas don’t give the going forth to anyone who hasn’t gotten their parents’ permission.”
“I’ll do whatever is necessary, sir, to get my parents’ permission.”
25. Rồi, khi hội chúng vừa mới đứng dậy không lâu, Sudinna, con trai của người làng Kalanda, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna, con trai của người làng Kalanda, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: 'Bạch ngài, theo như con hiểu được lời Pháp do đức Thế Tôn giảng dạy, thật không dễ cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, giống như vỏ ốc được đánh bóng. Bạch ngài, con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình. Xin đức Thế Tôn hãy cho con được xuất gia.' (Đức Phật hỏi:) 'Này Sudinna, ngươi đã được cha mẹ cho phép từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình chưa?' 'Bạch ngài, con chưa được cha mẹ cho phép từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.' 'Này Sudinna, các đấng Như Lai không cho xuất gia người con trai chưa được cha mẹ cho phép.' 'Bạch ngài, con sẽ làm thế nào để cha mẹ cho phép con được từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.'
Atha kho sudinno kalandaputto vesāliyaṁ taṁ karaṇīyaṁ tīretvā yena kalandagāmo yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca—“ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Evaṁ vutte, sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, tāta sudinna, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, tāta sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi mayaṁ te akāmakā vinā bhavissāma kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Dutiyampi kho sudinno kalandaputto mātāpitaro etadavoca—“ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Dutiyampi kho sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, tāta sudinna, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, tāta sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi mayaṁ te akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Tatiyampi kho sudinno kalandaputto mātāpitaro etadavoca—“ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Tatiyampi kho sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, tāta sudinna, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, tāta sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi mayaṁ te akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
After finishing his business in Vesālī, Sudinna returned to Kalanda. He then went to his parents and said, “Mom and dad, the way I understand the Buddha’s Teaching, it’s not easy for one who lives at home to lead the spiritual life perfectly complete and pure. I want to cut off my hair and beard, put on the ocher robes, and go forth into homelessness. Please give me permission to go forth.”
“But, Sudinna, you’re our only child, and we love you dearly. You live in comfort and we care for you. You don’t have any suffering. Even if you died we wouldn’t want to lose you. So how can we allow you to go forth into homelessness while you’re still living?”
Sudinna asked his parents a second and a third time, but got the same reply.
26. Bấy giờ, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda, sau khi đã giải quyết xong công việc ấy ở Vesālī, đã đi đến làng Kalanda, đến nơi cha mẹ đang ở; sau khi đến, đã thưa với cha mẹ lời này: – ‘Thưa cha mẹ, theo như con hiểu được Giáo Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, thì việc sống tại gia này không dễ dàng để thực hành đời sống phạm hạnh một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch như vỏ ốc đã được mài giũa; con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Xin cha mẹ cho phép con được từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Khi được nói vậy, cha mẹ của Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã nói với Sudinna con trai của gia tộc Kalanda lời này: – ‘Này con Sudinna, con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Sudinna, con không biết đến bất cứ sự khổ não nào. Ngay cả khi con chết đi, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là cha mẹ lại có thể cho phép con, trong khi đang còn sống, được từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Lần thứ nhì, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã thưa với cha mẹ lời này: – ‘Thưa cha mẹ, theo như con hiểu được Giáo Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, thì việc sống tại gia này không dễ dàng để thực hành đời sống phạm hạnh một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch như vỏ ốc đã được mài giũa; con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Xin cha mẹ cho phép con được từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Lần thứ nhì, cha mẹ của Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã nói với Sudinna con trai của gia tộc Kalanda lời này: – ‘Này con Sudinna, con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Sudinna, con không biết đến bất cứ sự khổ não nào. Ngay cả khi con chết đi, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là cha mẹ lại có thể cho phép con, trong khi đang còn sống, được từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’ Lần thứ ba, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã thưa với cha mẹ lời này: – ‘Thưa cha mẹ, theo như con hiểu được Giáo Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng, thì việc sống tại gia này không dễ dàng để thực hành đời sống phạm hạnh một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch như vỏ ốc đã được mài giũa; con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp lên y phục màu cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Xin cha mẹ cho phép con được từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Lần thứ ba, cha mẹ của Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã nói với Sudinna con trai của gia tộc Kalanda lời này: – ‘Này con Sudinna, con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Sudinna, con không biết đến bất cứ sự khổ não nào. Ngay cả khi con chết đi, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là cha mẹ lại có thể cho phép con, trong khi đang còn sống, được từ bỏ gia đình, sống không gia đình?’
Atha kho sudinno kalandaputto—“na maṁ mātāpitaro anujānanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti, tattheva anantarahitāya bhūmiyā nipajji—“idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā”ti. Atha kho sudinno kalandaputto ekampi bhattaṁ na bhuñji, dvepi bhattāni na bhuñji, tīṇipi bhattāni na bhuñji, cattāripi bhattāni na bhuñji, pañcapi bhattāni na bhuñji, chapi bhattāni na bhuñji, sattapi bhattāni na bhuñji.
He then lay down on the bare ground and said, “I’ll either die right here or go forth!” And he did not eat at the next seven meals.
27. Bấy giờ, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda (nghĩ rằng): ‘Cha mẹ không cho phép ta được từ bỏ gia đình, sống không gia đình,’ rồi đã nằm xuống ngay tại chỗ ấy, trên nền đất không trải gì, (với ý nghĩ): ‘Ngay tại đây, ta sẽ chết hoặc sẽ được xuất gia.’ Sau đó, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã không ăn một bữa, cũng không ăn hai bữa, cũng không ăn ba bữa, cũng không ăn bốn bữa, cũng không ăn năm bữa, cũng không ăn sáu bữa, cũng không ăn bảy bữa.
Atha kho sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, tāta sudinna, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, tāta sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi mayaṁ te akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya? Uṭṭhehi, tāta sudinna, bhuñja ca piva ca paricārehi ca, bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Evaṁ vutte, sudinno kalandaputto tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, tāta sudinna, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, tāta sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi mayaṁ te akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Uṭṭhehi, tāta sudinna, bhuñja ca piva ca paricārehi ca, bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu. Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Tatiyampi kho sudinno kalandaputto tuṇhī ahosi.
His parents repeated what they had said, adding, “Get up, Sudinna, eat, drink, and enjoy yourself! Enjoy the pleasures of the world and do acts of merit. We won’t allow you to go forth.” But Sudinna did not respond.
His parents said the same thing a second and a third time, but Sudinna remained silent.
28. Bấy giờ, cha mẹ của Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã nói với Sudinna con trai của gia tộc Kalanda lời này: – ‘Này con Sudinna, con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Sudinna, con không biết đến bất cứ sự khổ não nào. Ngay cả khi con chết đi, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là cha mẹ lại có thể cho phép con, trong khi đang còn sống, được từ bỏ gia đình, sống không gia đình? Này con Sudinna, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi. Trong khi ăn, uống, vui hưởng, tận hưởng các dục lạc, làm các việc phước thiện, con hãy hoan hỷ. Cha mẹ không cho phép con được từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Khi được nói vậy, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã giữ im lặng. Lần thứ nhì... Lần thứ ba, cha mẹ của Sudinna con trai của gia tộc Kalanda đã nói với Sudinna con trai của gia tộc Kalanda lời này: – ‘Này con Sudinna, con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ, là người thân yêu, quý mến, được nuôi nấng trong sung sướng, được chăm sóc trong tiện nghi. Này con Sudinna, con không biết đến bất cứ sự khổ não nào. Ngay cả khi con chết đi, cha mẹ cũng không muốn phải xa lìa con, huống nữa là cha mẹ lại có thể cho phép con, trong khi đang còn sống, được từ bỏ gia đình, sống không gia đình! Này con Sudinna, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi. Trong khi ăn, uống, vui hưởng, tận hưởng các dục lạc, làm các việc phước thiện, con hãy hoan hỷ. Cha mẹ không cho phép con được từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Lần thứ ba, Sudinna con trai của gia tộc Kalanda cũng đã giữ im lặng.
Atha kho sudinnassa kalandaputtassa sahāyakā yena sudinno kalandaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, samma sudinna, mātāpitūnaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparihato. Na tvaṁ, samma sudinna, kiñci dukkhassa jānāsi. Maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti, kiṁ pana taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajāya. Uṭṭhehi, samma sudinna, bhuñja ca piva ca paricārehi ca, bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu, na taṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Evaṁ vutte, sudinno kalandaputto tuṇhī ahosi. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho sudinnassa kalandaputtassa sahāyakā sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ—“tvaṁ khosi, samma sudinna …pe… tatiyampi kho sudinno kalandaputto tuṇhī ahosi.
Then Sudinna’s friends went to him and repeated three times what his parents had said.
Bấy giờ, các người bạn của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đi đến chỗ Sudinna, con trai của gia đình Kalanda; sau khi đến, họ nói với Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, điều này: ‘Này bạn Sudinna, bạn là người con trai duy nhất của cha mẹ, được yêu mến, được quý trọng, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được chăm sóc trong an lạc. Này bạn Sudinna, bạn không biết đến bất cứ khổ đau nào. Ngay cả khi bạn chết đi, cha mẹ bạn cũng sẽ phải chia lìa trong sự không mong muốn, huống nữa là khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia! Này bạn Sudinna, hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy vui hưởng đi. Vừa ăn, vừa uống, vừa vui hưởng, vừa thụ hưởng các dục lạc, vừa làm các công đức, bạn hãy hoan hỷ đi. Cha mẹ bạn sẽ không cho phép bạn từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia đâu.’ Khi được nói như vậy, Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đã giữ im lặng. Lần thứ hai cũng vậy… Lần thứ ba, các người bạn của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, lại nói với Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, điều này: ‘Này bạn Sudinna, bạn là….’ Lần thứ ba, Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, vẫn giữ im lặng.
Atha kho sudinnassa kalandaputtassa sahāyakā yena sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sudinnassa kalandaputtassa mātāpitaro etadavocuṁ—“ammatātā, eso sudinno anantarahitāya bhūmiyā nipanno—‘idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā’ti. Sace tumhe sudinnaṁ nānujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, tattheva maraṇaṁ āgamissati. Sace pana tumhe sudinnaṁ anujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, pabbajitampi naṁ dakkhissatha. Sace sudinno nābhiramissati agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, kā tassa aññā gati bhavissati, idheva paccāgamissati. Anujānātha sudinnaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“Anujānāma, tātā, sudinnaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Atha kho sudinnassa kalandaputtassa sahāyakā yena sudinno kalandaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sudinnaṁ kalandaputtaṁ etadavocuṁ— “uṭṭhehi, samma sudinna, anuññātosi mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
When Sudinna still did not respond, Sudinna’s friends went to his parents and said, “Sudinna says he’ll either die right there on the bare ground or go forth. If you don’t allow him to go forth, he’ll die there. But if you allow him to go forth, you’ll see him again afterwards. And if he doesn’t enjoy the going forth, what alternative will he have but to come back here? So please allow him to go forth.”
“Alright, then.”
And Sudinna’s friends said to him, “Get up, Sudinna, your parents have given you permission to go forth.”
29. Bấy giờ, các người bạn của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đi đến chỗ cha mẹ của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda; sau khi đến, họ nói với cha mẹ của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, điều này: ‘Thưa mẹ, thưa cha, Sudinna này đang nằm trên nền đất trống, với ý nghĩ rằng: ‘Ngay tại đây, ta sẽ chết hoặc sẽ được xuất gia.’ Nếu hai vị không cho phép Sudinna từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia, thì cậu ấy sẽ chết ngay tại đó. Còn nếu hai vị cho phép Sudinna từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia, thì hai vị vẫn sẽ được gặp lại cậu ấy trong thân tướng người xuất gia. Nếu Sudinna không hoan hỷ với việc từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia, thì cậu ấy còn có lối thoát nào khác? Cậu ấy sẽ trở về lại chính nơi đây. Xin hai vị hãy cho phép Sudinna từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia.’ (Cha mẹ đáp:) ‘Này các con, chúng tôi cho phép Sudinna từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia.’ Bấy giờ, các người bạn của Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đi đến chỗ Sudinna, con trai của gia đình Kalanda; sau khi đến, họ nói với Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, điều này: ‘Này bạn Sudinna, hãy đứng dậy, bạn đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia.’
Atha kho sudinno kalandaputto—“anuññātomhi kira mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti, haṭṭho udaggo pāṇinā gattāni paripuñchanto vuṭṭhāsi. Atha kho sudinno kalandaputto katipāhaṁ balaṁ gāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sudinno kalandaputto bhagavantaṁ etadavoca—“anuññāto ahaṁ, bhante, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya. Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
Alattha kho sudinno kalandaputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno ca panāyasmā sudinno evarūpe dhutaguṇe samādāya vattati, āraññiko hoti piṇḍapātiko paṁsukūliko sapadānacāriko, aññataraṁ vajjigāmaṁ upanissāya viharati.
When Sudinna heard this, he was excited and joyful, stroking his limbs with his hands as he got up. After spending a few days to regain his strength, he went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, I’ve gotten my parents’ permission to go forth. Please give me the going forth.”
He then received the going forth and the full ordination in the presence of the Buddha. Not long afterwards he practiced these kinds of ascetic practices: he stayed in the wilderness, ate only almsfood, was a rag-robe wearer, and went on continuous almsround. And he lived supported by a certain Vajjian village.
30. Bấy giờ, Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, với ý nghĩ: ‘Ta đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia,’ đã hoan hỷ, phấn khởi, dùng tay xoa bóp chân tay rồi đứng dậy. Sau đó, Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, sau khi phục hồi sức khỏe trong vài ngày, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch đức Thế Tôn, con đã được cha mẹ cho phép từ bỏ gia đình, sống không gia đình để xuất gia. Xin đức Thế Tôn hãy cho con được xuất gia.’ Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đã nhận được sự xuất gia, đã nhận được sự cụ túc giới ở nơi đức Thế Tôn. Và không lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Sudinna đã thọ trì và thực hành các phẩm hạnh đầu-đà như sau: vị ấy là người sống ở rừng, là người đi khất thực, là người mặc y phấn tảo, là người đi khất thực từng nhà, và vị ấy an trú nương vào một ngôi làng nào đó của xứ Vajjī.
Tena kho pana samayena vajjī dubbhikkhā hoti dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā, na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Atha kho āyasmato sudinnassa etadahosi—“etarahi kho vajjī dubbhikkhā dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā, na sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Bahū kho pana me vesāliyaṁ ñātī aḍḍhā mahaddhanā mahābhogā pahūtajātarūparajatā pahūtavittūpakaraṇā pahūtadhanadhaññā. Yannūnāhaṁ ñātī upanissāya vihareyyaṁ. Ñātī maṁ nissāya dānāni dassanti puññāni karissanti, bhikkhū ca lābhaṁ lacchanti, ahañca piṇḍakena na kilamissāmī”ti.
Atha kho āyasmā sudinno senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena vesālī tena pakkāmi. Anupubbena yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ āyasmā sudinno vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Assosuṁ kho āyasmato sudinnassa ñātakā—“sudinno kira kalandaputto vesāliṁ anuppatto”ti. Te āyasmato sudinnassa saṭṭhimatte thālipāke bhattābhihāraṁ abhihariṁsu. Atha kho āyasmā sudinno te saṭṭhimatte thālipāke bhikkhūnaṁ vissajjetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kalandagāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Kalandagāme sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Soon afterwards, the Vajjians were short of food and afflicted with hunger, with crops affected by whiteheads and turned to straw. It was not easy to get by on almsfood. Sudinna considered this and thought, “I have many wealthy relatives in Vesālī. Why don’t I get them to support me? My relatives will be able to make offerings and merit, the monks will get material support, and I’ll have no trouble getting almsfood.”
He then put his dwelling in order, took his bowl and robe, and set out for Vesālī. When he eventually arrived, he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood. His relatives heard that he had arrived in Vesālī, and they presented him with an offering of sixty servings of food. Sudinna gave the sixty servings to the monks. He then took his bowl and robe and went to the village of Kalanda for alms. As he was going on continuous almsround, he came to his own father’s house.
Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī bị nạn đói, đời sống khó khăn, xương trắng đầy đồng, phải sống bằng phiếu thực phẩm; không dễ dàng để sinh sống bằng cách lượm lặt và mang bát đi khất thực. Bấy giờ, Tôn giả Sudinna đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Hiện nay, xứ Vajjī bị nạn đói, đời sống khó khăn, xương trắng đầy đồng, phải sống bằng phiếu thực phẩm; không dễ dàng để sinh sống bằng cách lượm lặt và mang bát đi khất thực. Ở Vesālī, ta có nhiều bà con thân quyến giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài vật và phương tiện, dồi dào tiền của và lúa gạo. Hay là ta nên đến sống nương tựa vào bà con thân quyến! Nhờ nương tựa vào ta, bà con thân quyến sẽ cúng dường các vật thí, sẽ làm các công đức, các vị tỳ khưu cũng sẽ nhận được lợi lộc, và ta cũng sẽ không phải mệt nhọc vì việc khất thực.’ Bấy giờ, Tôn giả Sudinna dọn dẹp chỗ ở, lấy y bát rồi lên đường đi đến Vesālī. Tuần tự, vị ấy đã đến Vesālī. Tại đấy, Tôn giả Sudinna an trú ở Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn. Các bà con thân quyến của Tôn giả Sudinna nghe được rằng: ‘Nghe nói Sudinna, con trai của gia đình Kalanda, đã đến Vesālī.’ Họ đã mang đến cho Tôn giả Sudinna sáu mươi phần cơm được nấu trong nồi. Bấy giờ, Tôn giả Sudinna đã phân phát sáu mươi phần cơm ấy cho các vị tỳ khưu, rồi vào buổi sáng, đắp y, mang bát, đi vào làng Kalanda để khất thực. Trong khi đi khất thực theo thứ tự từng nhà ở làng Kalanda, vị ấy đã đi đến nhà của cha mình.
Tena kho pana samayena āyasmato sudinnassa ñātidāsī ābhidosikaṁ kummāsaṁ chaḍḍetukāmā hoti. Atha kho āyasmā sudinno taṁ ñātidāsiṁ etadavoca— “sace taṁ, bhagini, chaḍḍanīyadhammaṁ, idha me patte ākirā”ti.
Atha kho āyasmato sudinnassa ñātidāsī taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ āyasmato sudinnassa patte ākirantī hatthānañca pādānañca sarassa ca nimittaṁ aggahesi. Atha kho āyasmato sudinnassa ñātidāsī yenāyasmato sudinnassa mātā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato sudinnassa mātaraṁ etadavoca— “yaggheyye, jāneyyāsi, ayyaputto sudinno anuppatto”ti.
“Sace, je, tvaṁ saccaṁ bhaṇasi, adāsiṁ taṁ karomī”ti.
Just then a female slave of Sudinna’s relatives was about to throw away the previous evening’s porridge. Sudinna said to her, “If that’s to be thrown away, sister, put it here in my almsbowl.”
As she was putting the porridge into his bowl, she recognized his hands, feet, and voice. She then went to his mother and said, “Please be aware, ma’am, that master Sudinna is back.”
“Gosh, if you’re telling the truth, you’re a free woman!”
31. Vào lúc bấy giờ, có người nữ tỳ của thân quyến trưởng lão Sudinna muốn vứt bỏ bánh lúa mạch đã bị ôi thiu. Khi ấy, trưởng lão Sudinna đã nói với người nữ tỳ ấy rằng: 'Này chị, nếu vật ấy là thứ phải vứt bỏ thì hãy đổ vào trong bát của tôi ở đây.' Khi ấy, trong khi đổ bánh lúa mạch ôi thiu ấy vào trong bát của trưởng lão Sudinna, người nữ tỳ của thân quyến trưởng lão Sudinna đã ghi nhận dấu hiệu của tay, của chân, và của giọng nói. Khi ấy, người nữ tỳ của thân quyến trưởng lão Sudinna đã đi đến nơi có mẹ của trưởng lão Sudinna; sau khi đi đến, đã nói với mẹ của trưởng lão Sudinna rằng: 'Thưa bà chủ, mong bà chủ biết cho, cậu chủ Sudinna đã đến rồi.' (Bà mẹ nói:) 'Này tớ gái, nếu ngươi nói thật, ta sẽ cho ngươi được tự do.'
Tena kho pana samayena āyasmā sudinno taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjati. Pitāpi kho āyasmato sudinnassa kammantā āgacchanto addasa āyasmantaṁ sudinnaṁ taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjantaṁ. Disvāna yenāyasmā sudinno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca— “atthi nāma, tāta sudinna, ābhidosikaṁ kummāsaṁ paribhuñjissasi. Nanu nāma, tāta sudinna, sakaṁ gehaṁ gantabban”ti?
“Agamimha kho te, gahapati, gehaṁ. Tatāyaṁ ābhidosiko kummāso”ti.
Atha kho āyasmato sudinnassa pitā āyasmato sudinnassa bāhāyaṁ gahetvā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca— “ehi, tāta sudinna, gharaṁ gamissāmā”ti.
Atha kho āyasmā sudinno yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmato sudinnassa pitā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca— “bhuñja, tāta sudinnā”ti.
“Alaṁ, gahapati, kataṁ me ajja bhattakiccan”ti.
“Adhivāsehi, tāta sudinna, svātanāya bhattan”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā sudinno tuṇhībhāvena. Atha kho āyasmā sudinno uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
As Sudinna was eating the previous evening’s porridge at the base of a certain wall, his father was coming home from work. When he saw him sitting there, he went up to him and said, “But, Sudinna, isn’t there … What! You’re eating old porridge! Why don’t you come to your own house?”
“We went to your house, householder. That’s where we received this porridge.”
Sudinna’s father took him by the arm and said, “Come, let’s go home.”
Sudinna went to his father’s house and sat down on the prepared seat. His father said to him, “Please eat, Sudinna.”
“There’s no need. I’m done for today.”
“Then come back for the meal tomorrow.”
Sudinna consented by keeping silent, and he got up from his seat and left.
32. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Sudinna đang dựa vào một chân tường nào đó mà thọ dụng bánh lúa mạch ôi thiu ấy. Cha của trưởng lão Sudinna cũng vậy, trong khi đi từ nơi làm việc về, đã trông thấy trưởng lão Sudinna đang dựa vào một chân tường nào đó mà thọ dụng bánh lúa mạch ôi thiu ấy. Sau khi trông thấy, ông đã đi đến nơi có trưởng lão Sudinna; sau khi đi đến, đã nói với trưởng lão Sudinna rằng: 'Này con Sudinna, có thật là con lại ăn bánh lúa mạch ôi thiu sao! Này con Sudinna, há chẳng phải nên về nhà mình sao?' (Sudinna đáp:) 'Thưa gia chủ, chúng tôi đã đến nhà của ông rồi. Bánh lúa mạch ôi thiu này là từ đó mà có.' Khi ấy, cha của trưởng lão Sudinna nắm lấy cánh tay của trưởng lão Sudinna và nói với trưởng lão Sudinna rằng: 'Lại đây, con Sudinna, chúng ta hãy về nhà.' Khi ấy, trưởng lão Sudinna đã đi đến nhà của cha mình; sau khi đi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được dọn sẵn. Khi ấy, cha của trưởng lão Sudinna đã nói với trưởng lão Sudinna rằng: 'Này con Sudinna, hãy ăn đi.' (Sudinna đáp:) 'Thôi đủ rồi, thưa gia chủ, hôm nay phận sự về vật thực của tôi đã xong.' (Người cha nói:) 'Này con Sudinna, hãy nhận lời cho bữa ăn ngày mai.' Trưởng lão Sudinna đã nhận lời bằng cách giữ im lặng. Khi ấy, trưởng lão Sudinna đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi ra đi.
Atha kho āyasmato sudinnassa mātā tassā rattiyā accayena haritena gomayena pathaviṁ opuñjāpetvā dve puñje kārāpesi—ekaṁ hiraññassa, ekaṁ suvaṇṇassa. Tāva mahantā puñjā ahesuṁ, orato ṭhito puriso pārato ṭhitaṁ purisaṁ na passati; pārato ṭhito puriso orato ṭhitaṁ purisaṁ na passati. Te puñje kilañjehi paṭicchādāpetvā majjhe āsanaṁ paññāpetvā tirokaraṇīyaṁ parikkhipitvā āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikaṁ āmantesi—“tena hi, vadhu, yena alaṅkārena alaṅkatā puttassa me sudinnassa piyā ahosi manāpā tena alaṅkārena alaṅkarā”ti.
“Evaṁ, ayye”ti, kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā āyasmato sudinnassa mātuyā paccassosi.
The next morning Sudinna’s mother had the floor smeared with fresh cow-dung. She then piled up two heaps, one with money, the other with gold. The heaps were so large that a man standing on one side could not see a man standing on the other. She hid the heaps behind screens, prepared a seat between them, and surrounded it all with a curtain. And she said to Sudinna’s ex-wife, “Now please adorn yourself in the way our son Sudinna found you especially attractive.”
“Yes, ma’am.”
33. Khi ấy, sau khi đêm ấy trôi qua, mẹ của trưởng lão Sudinna đã sai người trát nền đất bằng phân bò tươi rồi sai người làm hai đống của cải – một đống bạc, một đống vàng. Các đống của cải ấy lớn đến mức người đứng bên này không thấy người đứng bên kia; người đứng bên kia cũng không thấy người đứng bên này. Bà sai người dùng chiếu che các đống của cải ấy lại, sai người dọn một chỗ ngồi ở giữa, rồi cho dựng một tấm màn che xung quanh, và gọi người vợ cũ của trưởng lão Sudinna đến mà bảo rằng: 'Này con dâu, con hãy trang điểm bằng thứ trang sức nào mà khi trang điểm con đã từng là người thương yêu, đẹp lòng của con trai ta là Sudinna.' Người vợ cũ của trưởng lão Sudinna đã vâng lời mẹ của trưởng lão Sudinna rằng: 'Vâng, thưa bà.'
Atha kho āyasmā sudinno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmato sudinnassa pitā yenāyasmā sudinno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te puñje vivarāpetvā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“idaṁ te, tāta sudinna, mātu mattikaṁ itthikāya itthidhanaṁ, aññaṁ pettikaṁ aññaṁ pitāmahaṁ. Labbhā, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhogā ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Ehi tvaṁ, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti.
“Tāta, na ussahāmi na visahāmi, abhirato ahaṁ brahmacariyaṁ carāmī”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmato sudinnassa pitā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“idaṁ te, tāta sudinna, mātu mattikaṁ, itthikāya itthidhanaṁ, aññaṁ pettikaṁ, aññaṁ pitāmahaṁ. Labbhā, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhogā ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Ehi tvaṁ, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti. “Vadeyyāma kho taṁ, gahapati, sace tvaṁ nātikaḍḍheyyāsī”ti.
“Vadehi, tāta sudinnā”ti.
“Tena hi tvaṁ, gahapati, mahante mahante sāṇipasibbake kārāpetvā hiraññasuvaṇṇassa pūrāpetvā sakaṭehi nibbāhāpetvā majjhe gaṅgāya sote opātehi. Taṁ kissa hetu? Yañhi te, gahapati, bhavissati tatonidānaṁ bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā ārakkho vā so te na bhavissatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmato sudinnassa pitā anattamano ahosi— “kathañhi nāma putto sudinno evaṁ vakkhatī”ti.
Then, after robing up, Venerable Sudinna took his bowl and robe and went to his father’s house where he sat down on the prepared seat. His father went up to him, uncovered the heaps, and said, “This dowry, dear Sudinna, is the fortune from your mother. It’s yours. Another is the fortune from your father and another the fortune from your ancestors. Please return to the lower life, enjoy wealth, and make merit.”
“I can’t, father. I’m enjoying the spiritual life.”
Sudinna’s father repeated his request and Sudinna replied as before. When Sudinna’s father repeated his request a third time, Sudinna said, “If you wouldn’t get offended, I could tell you what to do.”
“Let’s hear it.”
“Well then, make some large hempen sacks, put all the money and gold inside, take it all away in carts, and dump it in the middle of the Ganges. And why? Because that way you will avoid the danger, fear, and terror that it will otherwise cause you, as well as the trouble with protecting it.”
His father became upset, thinking, “How can our son Sudinna say such things?”
34. Khi ấy, vào buổi sáng, trưởng lão Sudinna sau khi đắp y, mang bát và thượng y, đã đi đến nhà của cha mình; sau khi đi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được dọn sẵn. Khi ấy, cha của trưởng lão Sudinna đã đi đến nơi có trưởng lão Sudinna; sau khi đi đến, ông sai người mở các đống của cải ấy ra và nói với trưởng lão Sudinna rằng: 'Này con Sudinna, đây là tài sản của mẹ con, từ bên mẹ, là tài sản của phụ nữ. Tài sản từ bên cha và tài sản từ bên ông bà thì lại là phần khác nữa. Này con Sudinna, con có thể hoàn tục để vừa hưởng thụ của cải, vừa làm các công đức. Lại đây, con Sudinna, con hãy hoàn tục, vừa hưởng thụ của cải, vừa làm các công đức.' (Sudinna đáp:) 'Thưa cha, con không thể, con không dám. Con đang hoan hỷ thực hành phạm hạnh.' Lần thứ hai... Lần thứ ba, cha của trưởng lão Sudinna cũng đã nói với trưởng lão Sudinna rằng: 'Này con Sudinna, đây là tài sản của mẹ con, từ bên mẹ, là tài sản của phụ nữ. Tài sản từ bên cha và tài sản từ bên ông bà thì lại là phần khác nữa. Này con Sudinna, con có thể hoàn tục để vừa hưởng thụ của cải, vừa làm các công đức. Lại đây, con Sudinna, con hãy hoàn tục, vừa hưởng thụ của cải, vừa làm các công đức.' (Sudinna nói:) 'Thưa gia chủ, chúng tôi có thể nói với ông, nếu ông không tức giận.' (Người cha đáp:) 'Này con Sudinna, hãy nói đi.' (Sudinna nói:) 'Vậy thì, thưa gia chủ, ông hãy sai người làm những cái bao gai thật lớn, sai người đổ đầy vàng bạc vào, sai người dùng xe chở đi, rồi đổ xuống giữa dòng sông Gaṅgā. Vì lý do gì? Này gia chủ, bởi vì do duyên cớ ấy mà sẽ phát sinh cho ông sự sợ hãi, hoặc sự run rẩy, hoặc sự dựng tóc gáy, hoặc sự phải canh giữ; (nếu làm như vậy thì) điều ấy sẽ không còn đối với ông nữa.' Khi được nói như vậy, cha của trưởng lão Sudinna đã không hài lòng (và nghĩ): 'Làm sao mà con trai Sudinna lại có thể nói như vậy!'
Atha kho āyasmato sudinnassa pitā āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikaṁ āmantesi—“tena hi, vadhu, tvaṁ piyā ca manāpā ca. Appeva nāma putto sudinno tuyhampi vacanaṁ kareyyā”ti.
Atha kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā āyasmato sudinnassa pādesu gahetvā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“kīdisā nāma tā, ayyaputta, accharāyo yāsaṁ tvaṁ hetu brahmacariyaṁ carasī”ti?
“Na kho ahaṁ, bhagini, accharānaṁ hetu brahmacariyaṁ carāmī”ti.
Atha kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā— “ajjatagge maṁ ayyaputto sudinno bhaginivādena samudācaratī”ti, tattheva mucchitā papatā.
He then said to Sudinna’s ex-wife, “Well then, since you were so dear to him, perhaps our son Sudinna will listen to you?”
Sudinna’s ex-wife took hold of his feet and said, “What are these nymphs like, sir, for which you practice the spiritual life?”
“Sister, I don’t practice the spiritual life for the sake of nymphs.”
His ex-wife thought, “Sudinna is now calling me ‘sister’,” and she fainted right there.
35. Bấy giờ, phụ thân của đại đức Sudinna gọi người vợ cũ của đại đức Sudinna và nói: – ‘Này con dâu, vậy thì, con là người được thương mến và quý trọng. Biết đâu con trai Sudinna của ta lại có thể làm theo lời nói của con!’ Bấy giờ, người vợ cũ của đại đức Sudinna ôm lấy chân của đại đức Sudinna rồi thưa với đại đức Sudinna điều này: – ‘Thưa hiền huynh, các vị thiên nữ ấy là hạng người như thế nào mà vì họ hiền huynh thực hành phạm hạnh?’ – ‘Này hiền muội, tôi không thực hành phạm hạnh vì các vị thiên nữ đâu.’ Bấy giờ, người vợ cũ của đại đức Sudinna (nghĩ rằng): ‘Kể từ hôm nay, hiền huynh Sudinna đã đối xử với ta bằng cách gọi là hiền muội,’ rồi ngất xỉu và té ngã ngay tại chỗ.
Atha kho āyasmā sudinno pitaraṁ etadavoca— “sace, gahapati, bhojanaṁ dātabbaṁ detha, mā no viheṭhayitthā”ti.
“Bhuñja, tāta sudinnā”ti. Atha kho āyasmato sudinnassa mātā ca pitā ca āyasmantaṁ sudinnaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesuṁ sampavāresuṁ.
Atha kho āyasmato sudinnassa mātā āyasmantaṁ sudinnaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ etadavoca—“idaṁ, tāta sudinna, kulaṁ aḍḍhaṁ mahaddhanaṁ mahābhogaṁ pahūtajātarūparajataṁ pahūtavittūpakaraṇaṁ pahūtadhanadhaññaṁ. Labbhā, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhogā ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Ehi tvaṁ, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti.
“Amma, na ussahāmi na visahāmi, abhirato ahaṁ brahmacariyaṁ carāmī”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmato sudinnassa mātā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“idaṁ, tāta sudinna, kulaṁ aḍḍhaṁ mahaddhanaṁ mahābhogaṁ pahūtajātarūparajataṁ pahūtavittūpakaraṇaṁ pahūtadhanadhaññaṁ. Tena hi, tāta sudinna, bījakampi dehi—mā no aputtakaṁ sāpateyyaṁ licchavayo atiharāpesun”ti.
“Etaṁ kho me, amma, sakkā kātun”ti.
“Kahaṁ pana, tāta sudinna, etarahi viharasī”ti?
“Mahāvane, ammā”ti. Atha kho āyasmā sudinno uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Sudinna said to his father, “If there’s food to be given, householder, give it, but don’t annoy me.”
“Eat, Sudinna,” he said. And Sudinna’s mother and father personally served and satisfied him with various kinds of fine foods.
When Sudinna had finished his meal, his mother said to him: “Sudinna dear, our family is rich. Please return to the lower life, enjoy wealth, and make merit.”
“Mother, I can’t. I’m enjoying the spiritual life.”
His mother repeated her request a second time, but got the same reply. She then said, “Our family is wealthy, Sudinna. Please give us an offspring, so that the Licchavīs don’t take over our heirless property.”
“Yes, mother, I can do that.”
“But where are you staying?”
“In the Great Wood.” And he got up from his seat and left.
Bấy giờ, đại đức Sudinna thưa với phụ thân điều này: – ‘Thưa gia chủ, nếu vật thực cần được dâng cúng thì xin hãy dâng cúng, xin đừng làm phiền chúng tôi.’ – ‘Này con Sudinna, con hãy dùng đi.’ Bấy giờ, cả phụ thân và mẫu thân của đại đức Sudinna đã tự tay dâng cúng và làm cho đại đức Sudinna được thỏa mãn với các món vật thực loại cứng và loại mềm hảo hạng. Bấy giờ, sau khi đã dùng xong, đã rửa tay và đặt bát xuống, mẫu thân của đại đức Sudinna thưa với đại đức Sudinna điều này: – ‘Này con Sudinna, gia tộc này giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài vật và phương tiện, dồi dào tiền của và lúa gạo. Này con Sudinna, con có thể trở về đời sống thấp kém để vừa hưởng thụ các tài sản vừa tạo các phước thiện. Này con Sudinna, con hãy lại đây, hãy trở về đời sống thấp kém, hãy vừa hưởng thụ các tài sản vừa làm các phước thiện.’ – ‘Thưa mẹ, con không thể, con không dám. Con đang vui thích thực hành phạm hạnh.’ Lần thứ nhì... Lần thứ ba, mẫu thân của đại đức Sudinna lại thưa với đại đức Sudinna điều này: – ‘Này con Sudinna, gia tộc này giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài vật và phương tiện, dồi dào tiền của và lúa gạo. Này con Sudinna, vậy thì con hãy cho một hạt giống, để cho hoàng tộc Licchavi không chiếm đoạt gia sản không có người thừa tự của chúng ta.’ – ‘Thưa mẹ, việc ấy thì con có thể làm được.’ – ‘Vậy thì, này con Sudinna, hiện nay con đang trú ở đâu?’ – ‘Thưa mẹ, ở trong khu Rừng Lớn.’ Bấy giờ, đại đức Sudinna đứng dậy từ chỗ ngồi rồi ra đi.
Atha kho āyasmato sudinnassa mātā āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikaṁ āmantesi—“tena hi, vadhu, yadā utunī ahosi, pupphaṁ te uppannaṁ hoti, atha me āroceyyāsī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā āyasmato sudinnassa mātuyā paccassosi. Atha kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā nacirasseva utunī ahosi, pupphaṁsā uppajji. Atha kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā āyasmato sudinnassa mātaraṁ etadavoca—“utunīmhi, ayye, pupphaṁ me uppannan”ti.
“Tena hi, vadhu, yena alaṅkārena alaṅkatā puttassa sudinnassa piyā ahosi manāpā tena alaṅkārena alaṅkarā”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā āyasmato sudinnassa mātuyā paccassosi.
Atha kho āyasmato sudinnassa mātā āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikaṁ ādāya yena mahāvanaṁ yenāyasmā sudinno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“idaṁ, tāta sudinna, kulaṁ aḍḍhaṁ mahaddhanaṁ mahābhogaṁ pahūtajātarūparajataṁ pahūtavittūpakaraṇaṁ pahūtadhanadhaññaṁ. Labbhā, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhogā ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Ehi tvaṁ, tāta sudinna, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti.
“Amma, na ussahāmi na visahāmi, abhirato ahaṁ brahmacariyaṁ carāmī”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmato sudinnassa mātā āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavoca—“idaṁ, tāta sudinna, kulaṁ aḍḍhaṁ mahaddhanaṁ mahābhogaṁ pahūtajātarūparajataṁ pahūtavittūpakaraṇaṁ pahūtadhanadhaññaṁ. Tena hi, tāta sudinna, bījakampi dehi—mā no aputtakaṁ sāpateyyaṁ licchavayo atiharāpesun”ti.
“Etaṁ kho me, amma, sakkā kātun”ti, purāṇadutiyikāya bāhāyaṁ gahetvā mahāvanaṁ ajjhogāhetvā apaññatte sikkhāpade anādīnavadasso purāṇadutiyikāya tikkhattuṁ methunaṁ dhammaṁ abhiviññāpesi. Sā tena gabbhaṁ gaṇhi.
Bhummā devā saddamanussāvesuṁ—“nirabbudo vata bho bhikkhusaṅgho nirādīnavo; sudinnena kalandaputtena abbudaṁ uppāditaṁ, ādīnavo uppādito”ti.
Bhummānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā cātumahārājikā devā saddamanussāvesuṁ …pe… tāvatiṁsā devā … yāmā devā … tusitā devā … nimmānaratī devā … paranimmitavasavattī devā … brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṁ—“nirabbudo vata bho bhikkhusaṅgho nirādīnavo; sudinnena kalandaputtena abbudaṁ uppāditaṁ, ādīnavo uppādito”ti. Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchi.
Sudinna’s mother then said to his ex-wife, “Well then, as soon as you reach your fertile period, please tell me.”
“Yes, ma’am.” Not long afterwards Sudinna’s ex-wife reached her fertile period, and she reported it to Sudinna’s mother.
“Now, please adorn yourself in the way that our son Sudinna found you especially attractive.”
“Yes.”
Then Sudinna’s mother, together with his ex-wife, went to Sudinna in the Great Wood, and she said to him: “Our family, dear Sudinna, is rich. Please return to the lower life, enjoy wealth, and make merit.”
“Mother, I can’t. I’m enjoying the spiritual life.”
His mother repeated her request a second time, but got the same reply. She then said this: “Well then, please give us an offspring. We don’t want the Licchavīs to take over our heirless property.”
“Alright, mother.” He then took his ex-wife by the arm, disappeared into the Great Wood and—there being no training rule and he seeing no danger—had sexual intercourse with her three times. As a result she conceived.
And the earth gods cried out: “Sirs, the Sangha of monks has been free from cancer and danger. But Sudinna of Kalanda has produced a cancer and endangered it.”
Hearing the earth gods, the gods of the four great kings cried out … the gods of the Thirty-three … the Yāma gods … the contented gods … the gods who delight in creation … the gods who control the creation of others … the gods of the realm of the supreme beings cried out: “Sirs, the Sangha of monks has been free from cancer and danger. But Sudinna of Kalanda has produced a cancer and endangered it.” Thus in that moment, in that instance, the news spread as far as the world of the supreme beings.
36. Bấy giờ, mẫu thân của đại đức Sudinna gọi người vợ cũ của đại đức Sudinna và nói: – ‘Này con dâu, vậy thì, khi nào con có kinh kỳ, có đóa hoa xuất hiện, khi ấy hãy báo cho ta biết.’ – ‘Thưa vâng, thưa mệnh phụ.’ Người vợ cũ của đại đức Sudinna đã vâng lời mẫu thân của đại đức Sudinna. Bấy giờ, không bao lâu sau người vợ cũ của đại đức Sudinna đã có kinh kỳ, đóa hoa của nàng đã xuất hiện. Bấy giờ, người vợ cũ của đại đức Sudinna thưa với mẫu thân của đại đức Sudinna điều này: – ‘Thưa mệnh phụ, con đang có kinh kỳ, đóa hoa của con đã xuất hiện.’ – ‘Này con dâu, vậy thì, con hãy trang điểm với loại trang sức nào mà khi được trang điểm con đã là người được thương mến, được quý trọng đối với con trai Sudinna.’ – ‘Thưa vâng, thưa mệnh phụ.’ Người vợ cũ của đại đức Sudinna đã vâng lời mẫu thân của đại đức Sudinna. Bấy giờ, mẫu thân của đại đức Sudinna dẫn người vợ cũ của đại đức Sudinna đi đến khu Rừng Lớn, đến chỗ của đại đức Sudinna; sau khi đến, bà đã thưa với đại đức Sudinna điều này: – ‘Này con Sudinna, gia tộc này giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài vật và phương tiện, dồi dào tiền của và lúa gạo. Này con Sudinna, con có thể trở về đời sống thấp kém để vừa hưởng thụ các tài sản vừa tạo các phước thiện. Này con Sudinna, con hãy lại đây, hãy trở về đời sống thấp kém, hãy vừa hưởng thụ các tài sản vừa làm các phước thiện.’ – ‘Thưa mẹ, con không thể, con không dám. Con đang vui thích thực hành phạm hạnh.’ Lần thứ nhì... Lần thứ ba, mẫu thân của đại đức Sudinna lại thưa với đại đức Sudinna điều này: – ‘Này con Sudinna, gia tộc này giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, dồi dào vàng bạc, dồi dào tài vật và phương tiện, dồi dào tiền của và lúa gạo. Này con Sudinna, vậy thì con hãy cho một hạt giống, để cho hoàng tộc Licchavi không chiếm đoạt gia sản không có người thừa tự của chúng ta.’ – ‘Thưa mẹ, việc ấy thì con có thể làm được.’ (Nói xong), vị ấy nắm lấy cánh tay của người vợ cũ, dẫn vào khu Rừng Lớn, và trong khi điều học chưa được chế định, do không thấy sự nguy hại, vị ấy đã thực hiện hành vi dâm dục ba lần với người vợ cũ. Do việc ấy, nàng đã thọ thai. Các vị chư thiên địa cầu đã cất lên tiếng nói: – ‘Này các bạn, Tăng chúng của các tỳ khưu quả là không có ung nhọt, không có nguy hại! Ung nhọt đã được Sudinna, người con của gia tộc Kalanda, làm cho phát sanh; sự nguy hại đã được làm cho phát sanh!’ Sau khi nghe được tiếng nói của các vị chư thiên địa cầu, các vị chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã cất lên tiếng nói... các vị chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba... các vị chư thiên Dạ Ma... các vị chư thiên Đâu Suất... các vị chư thiên Hóa Lạc... các vị chư thiên Tha Hóa Tự Tại... các vị chư thiên ở cõi Phạm Thiên đã cất lên tiếng nói: – ‘Này các bạn, Tăng chúng của các tỳ khưu quả là không có ung nhọt, không có nguy hại! Ung nhọt đã được Sudinna, người con của gia tộc Kalanda, làm cho phát sanh; sự nguy hại đã được làm cho phát sanh!’ Như thế, trong khoảnh khắc ấy, trong chốc lát ấy, tiếng nói đã vang lên cho đến cõi Phạm Thiên.
Atha kho āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikā tassa gabbhassa paripākamanvāya puttaṁ vijāyi. Atha kho āyasmato sudinnassa sahāyakā tassa dārakassa bījakoti nāmaṁ akaṁsu. Āyasmato sudinnassa purāṇadutiyikāya bījakamātāti nāmaṁ akaṁsu. Āyasmato sudinnassa bījakapitāti nāmaṁ akaṁsu. Te aparena samayena ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā arahattaṁ sacchākaṁsu.
In the meantime, the pregnancy of Sudinna’s ex-wife developed, and she eventually gave birth to a son. Sudinna’s friends called him Offspring, while calling Sudinna’s ex-wife Offspring’s mother, and Venerable Sudinna Offspring’s father. After some time, they both went forth into homelessness and realized perfection.
Khi ấy, người vợ cũ của trưởng lão Sudinna, do thai đã đến kỳ mãn nguyệt, sanh được một người con trai. Khi ấy, các người bạn của trưởng lão Sudinna đặt tên cho đứa bé ấy là ‘Bījaka’. Họ đặt tên cho người vợ cũ của trưởng lão Sudinna là Bījakamātā (mẹ của Bījaka). Họ đặt tên cho trưởng lão Sudinna là Bījakapitā (cha của Bījaka). Về sau, cả hai người (mẹ và con) ấy đã từ bỏ đời sống gia đình, xuất gia sống không gia đình, và đã chứng đắc quả A-la-hán.
Atha kho āyasmato sudinnassa ahudeva kukkuccaṁ, ahu vippaṭisāro—“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ; yohaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā nāsakkhiṁ yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti. So teneva kukkuccena tena vippaṭisārena kiso ahosi lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto antomano līnamano dukkhī dummano vippaṭisārī pajjhāyi.
But Sudinna was anxious and remorseful, thinking, “This is truly bad for me, that after going forth on such a well-proclaimed spiritual path, I wasn’t able to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end.” And because of his anxiety and remorse, he became thin, haggard, and pale, with veins protruding all over his body. He became sad, sluggish, miserable, and depressed, weighed down by remorse.
37. Khi ấy, trưởng lão Sudinna đã khởi lên sự hối hận, đã có sự ăn năn: ‘Thật bất lợi cho ta thay! Thật không lợi lộc gì cho ta thay! Thật là điều ta đã khéo không thọ nhận! Thật là điều ta đã không khéo thọ nhận! Ta đây, sau khi đã xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo thuyết giảng như thế, lại đã không thể thực hành phạm hạnh cho được trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời!’. Vị ấy, chính do sự hối hận ấy, do sự ăn năn ấy, đã trở nên gầy gò, thô xấu, dung sắc tồi tệ, da dẻ vàng vọt, thân thể nổi đầy gân, tâm trí ưu phiền, tâm trí chán nản, khổ sở, buồn rầu, hối hận, và trầm tư.
Atha kho āyasmato sudinnassa sahāyakā bhikkhū āyasmantaṁ sudinnaṁ etadavocuṁ—“pubbe kho tvaṁ, āvuso sudinna, vaṇṇavā ahosi pīṇindriyo pasannamukhavaṇṇo vippasannachavivaṇṇo; so dāni tvaṁ etarahi kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto antomano līnamano dukkhī dummano vippaṭisārī pajjhāyasi. Kacci no tvaṁ, āvuso sudinna, anabhirato brahmacariyaṁ carasī”ti?
“Na kho ahaṁ, āvuso, anabhirato brahmacariyaṁ carāmi. Atthi me pāpakammaṁ kataṁ; purāṇadutiyikāya methuno dhammo paṭisevito; tassa mayhaṁ, āvuso, ahudeva kukkuccaṁ ahu vippaṭisāro—‘alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ; yohaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā nāsakkhiṁ yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun’”ti.
“Alañhi te, āvuso sudinna, kukkuccāya alaṁ vippaṭisārāya yaṁ tvaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā na sakkhissasi yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Nanu, āvuso, bhagavatā anekapariyāyena virāgāya dhammo desito, no sarāgāya; visaṁyogāya dhammo desito, no saṁyogāya; anupādānāya dhammo desito, no saupādānāya. Tattha nāma tvaṁ, āvuso, bhagavatā virāgāya dhamme desite sarāgāya cetessasi, visaṁyogāya dhamme desite saṁyogāya cetessasi, anupādānāya dhamme desite saupādānāya cetessasi. Nanu, āvuso, bhagavatā anekapariyāyena rāgavirāgāya dhammo desito, madanimmadanāya pipāsavinayāya ālayasamugghātāya vaṭṭupacchedāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammo desito. Nanu, āvuso, bhagavatā anekapariyāyena kāmānaṁ pahānaṁ akkhātaṁ, kāmasaññānaṁ pariññā akkhātā, kāmapipāsānaṁ paṭivinayo akkhāto, kāmavitakkānaṁ samugghāto akkhāto, kāmapariḷāhānaṁ vūpasamo akkhāto. Netaṁ, āvuso, appasannānaṁ vā pasādāya, pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya. Atha khvetaṁ, āvuso, appasannānañceva appasādāya pasannānañca ekaccānaṁ aññathattāyā”ti.
The monks who were Sudinna’s friends said to him: “In the past, Sudinna, you had a good color, a bright face, clear skin, and sharp senses. But look at you now. Could it be that you are dissatisfied with the spiritual life?”
“I am not dissatisfied with the spiritual life, but I’ve done something bad. I’ve had sexual intercourse with my ex-wife. I’m anxious and remorseful because I wasn’t able to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end.”
“No wonder you’re anxious, Sudinna, no wonder you have remorse. Hasn’t the Buddha given many teachings for the sake of dispassion, not for the sake of lust; for the sake of freedom from bondage, not for the sake of bondage; for the sake of non-grasping, not for the sake of grasping? When the Buddha has taught in this way, how could you choose lust, bondage, and grasping? Hasn’t the Buddha given many teachings for the fading away of lust, for the clearing away of intoxication, for the removal of thirst, for the uprooting of attachment, for the cutting off of the round of rebirth, for the stopping of craving, for fading away, for ending, for extinguishment? Hasn’t the Buddha in many ways taught the abandoning of worldly pleasures, the full understanding of the perceptions of worldly pleasures, the removal of thirst for worldly pleasures, the elimination of thoughts of worldly pleasures, the stilling of the fevers of worldly pleasures? This will affect people’s confidence and cause some to lose it.”
38. Khi ấy, các tỳ khưu bạn hữu của trưởng lão Sudinna đã nói với trưởng lão Sudinna điều này: ‘Này hiền giả Sudinna, trước đây hiền giả có dung sắc đẹp đẽ, các căn đầy đặn, sắc mặt trong sáng, màu da thanh thoát; còn hiền giả bây giờ đây lại gầy gò, thô xấu, dung sắc tồi tệ, da dẻ vàng vọt, thân thể nổi đầy gân, tâm trí ưu phiền, tâm trí chán nản, khổ sở, buồn rầu, hối hận, và trầm tư. Này hiền giả Sudinna, có phải hiền giả không hoan hỷ thực hành phạm hạnh chăng?’. ‘Thưa các hiền giả, tôi không phải là không hoan hỷ thực hành phạm hạnh. Có một ác nghiệp đã được tôi thực hiện; pháp dâm đã được thực hành với người vợ cũ. Thưa các hiền giả, do việc ấy, tôi đã khởi lên sự hối hận, đã có sự ăn năn: ‘Thật bất lợi cho ta thay! Thật không lợi lộc gì cho ta thay! Thật là điều ta đã khéo không thọ nhận! Thật là điều ta đã không khéo thọ nhận! Ta đây, sau khi đã xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo thuyết giảng như thế, lại đã không thể thực hành phạm hạnh cho được trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời!’. ‘Này hiền giả Sudinna, hiền giả thật đáng để hối hận, thật đáng để ăn năn, vì rằng hiền giả, sau khi đã xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo thuyết giảng như thế, lại sẽ không thể thực hành phạm hạnh cho được trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời. Này hiền giả, há không phải đức Thế Tôn đã thuyết giảng Pháp bằng nhiều phương cách là để ly tham, chứ không phải để tham ái; là để giải thoát, chứ không phải để ràng buộc; là để không chấp thủ, chứ không phải để chấp thủ hay sao? Vậy mà, này hiền giả, trong khi đức Thế Tôn đã thuyết giảng Pháp để ly tham, hiền giả lại có ý hướng đến tham ái; trong khi Pháp được thuyết giảng để giải thoát, hiền giả lại có ý hướng đến ràng buộc; trong khi Pháp được thuyết giảng để không chấp thủ, hiền giả lại có ý hướng đến chấp thủ! Này hiền giả, há không phải đức Thế Tôn đã thuyết giảng Pháp bằng nhiều phương cách là để dứt bỏ tham ái, để dẹp tan kiêu mạn, để điều phục khát ái, để nhổ bật quyến luyến, để cắt đứt vòng luân hồi, để đoạn tận ái dục, để ly tham, để đoạn diệt, để đạt đến Niết-bàn hay sao? Này hiền giả, há không phải đức Thế Tôn đã tuyên bố bằng nhiều phương cách về sự từ bỏ các dục vọng, đã tuyên bố về sự liễu tri các tưởng về dục, đã tuyên bố về sự điều phục lòng khao khát dục vọng, đã tuyên bố về sự diệt trừ các tầm về dục, đã tuyên bố về sự làm cho lắng dịu các nhiệt não của dục vọng hay sao? Này hiền giả, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng. Mà trái lại, này hiền giả, việc này chỉ làm cho những người chưa có đức tin không phát sinh đức tin, và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.’
Atha kho te bhikkhū āyasmantaṁ sudinnaṁ anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ sudinnaṁ paṭipucchi—“saccaṁ kira tvaṁ, sudinna, purāṇadutiyikāya methunaṁ dhammaṁ paṭisevī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appaṭirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā na sakkhissasi yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena virāgāya dhammo desito, no sarāgāya; visaṁyogāya dhammo desito, no saṁyogāya; anupādānāya dhammo desito, no saupādānāya.
After rebuking Sudinna in many ways, they told the Buddha. The Buddha then had the Sangha of monks gathered and questioned Sudinna: “Is it true, Sudinna, that you had sexual intercourse with your ex-wife?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “Foolish man, it’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you go forth on such a well-proclaimed spiritual path and not be able to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end? Haven’t I given many teachings for the sake of dispassion, not for the sake of lust; for the sake of freedom from bondage, not for the sake of bondage; for the sake of non-grasping, not for the sake of grasping?
39. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khiển trách trưởng lão Sudinna bằng nhiều cách rồi trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho hội chúng tỳ khưu tụ họp lại rồi hỏi trưởng lão Sudinna: “Này Sudinna, có thật là ngươi đã thực hành dâm pháp với người vợ cũ không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã khiển trách: “Này kẻ trống rỗng, (việc làm này) không thích hợp, không tương ứng, không xứng đáng, không phải là hành vi của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ trống rỗng, tại sao ngươi, sau khi đã xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo giảng dạy như thế này, lại không thể thực hành phạm hạnh cho đến trọn đời một cách trọn vẹn và thanh tịnh! Này kẻ trống rỗng, há không phải Ta đã thuyết giảng Pháp bằng nhiều cách vì mục đích ly tham, chứ không phải vì mục đích tham ái; vì mục đích không ràng buộc, chứ không phải vì mục đích ràng buộc; vì mục đích không chấp thủ, chứ không phải vì mục đích chấp thủ hay sao! Này kẻ trống rỗng, thế mà ngươi, khi Pháp đã được Ta thuyết giảng vì mục đích ly tham, lại có ý hướng đến tham ái; khi Pháp đã được thuyết giảng vì mục đích không ràng buộc, lại có ý hướng đến ràng buộc; khi Pháp đã được thuyết giảng vì mục đích không chấp thủ, lại có ý hướng đến chấp thủ! Này kẻ trống rỗng, há không phải Ta đã thuyết giảng Pháp bằng nhiều cách vì mục đích dứt bỏ tham ái! Đã thuyết giảng Pháp vì mục đích dẹp tan kiêu mạn, vì mục đích trừ bỏ khát ái, vì mục đích cắt đứt quyến luyến, vì mục đích chấm dứt luân hồi, vì mục đích tận diệt ái dục, vì mục đích ly tham, vì mục đích đoạn diệt, vì mục đích Niết-bàn! Này kẻ trống rỗng, há không phải Ta đã tuyên thuyết bằng nhiều cách về sự từ bỏ các dục, đã tuyên thuyết về sự liễu tri các tưởng về dục, đã tuyên thuyết về sự chế ngự các khát ái về dục, đã tuyên thuyết về sự nhổ sạch các tầm về dục, đã tuyên thuyết về sự làm cho lắng dịu các nhiệt não về dục hay sao! Này kẻ trống rỗng, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào miệng của một con rắn độc có nọc độc kinh khiếp, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào bộ phận sinh dục của người nữ. Này kẻ trống rỗng, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào miệng của một con rắn hổ mang, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào bộ phận sinh dục của người nữ. Này kẻ trống rỗng, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào hố than đang cháy đỏ, bừng cháy, rực lửa, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào bộ phận sinh dục của người nữ. Vì sao vậy? Này kẻ trống rỗng, vì nhân duyên ấy, người ấy có thể đi đến cái chết hoặc chịu đau khổ gần chết, nhưng do nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy chắc chắn không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn này kẻ trống rỗng, do nhân duyên này, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ trống rỗng, thế mà ngươi lại thực hành cái gọi là phi pháp, pháp của dân làng, pháp của kẻ hạ tiện, việc thô bỉ, kết thúc bằng việc rửa ráy, việc làm lén lút, sự giao hợp của đôi lứa. Này kẻ trống rỗng, ngươi là người khởi đầu, là người đi trước trong nhiều pháp bất thiện. Này kẻ trống rỗng, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sanh đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng. Mà này kẻ trống rỗng, việc này chỉ làm cho những người chưa có đức tin không phát sanh đức tin, và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sudinnaṁ anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya dupposatāya mahicchatāya asantuṭṭhitāya saṅgaṇikāya kosajjassa avaṇṇaṁ bhāsitvā anekapariyāyena subharatāya suposatāya appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇaṁ bhāsitvā bhikkhūnaṁ tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
Then the Buddha spoke in many ways in dispraise of being difficult to support and maintain, in dispraise of great desires, discontent, socializing, and laziness; but he spoke in many ways in praise of being easy to support and maintain, of fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, serenity, reduction in things, and being energetic. After giving a teaching on what is right and proper, he addressed the monks:
41. Bấy giờ, con khỉ cái ấy đã đi đến chỗ vị tỳ khưu kia. Sau đó, vị tỳ khưu kia sau khi dùng một phần vật thực khất thực được đã cho một phần cho con khỉ cái ấy. Bấy giờ, con khỉ cái ấy sau khi ăn vật thực khất thực được đã ưỡn phần hông ra trước vị tỳ khưu ấy. Sau đó, vị tỳ khưu kia đã thực hành pháp dâm dục với con khỉ cái ấy. Bấy giờ, các vị tỳ khưu kia đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Này hiền giả, chẳng phải đức Thế Tôn đã chế định học giới rồi sao? Này hiền giả, tại sao ngài lại thực hành pháp dâm dục với con khỉ cái?” – “Thưa các hiền giả, đúng là đức Thế Tôn đã chế định học giới, nhưng điều ấy là đối với người nữ, không phải đối với loài bàng sanh cái.” – “Này hiền giả, chẳng phải việc ấy cũng giống như vậy sao? Này hiền giả, (việc này) là không thích hợp, không thuận theo, không tương xứng, không phải là hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này hiền giả, tại sao ngài, sau khi đã xuất gia trong Giáo pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vậy, lại không thể thực hành phạm hạnh cho được trọn vẹn và thanh tịnh cho đến trọn đời! Này hiền giả, chẳng phải đức Thế Tôn đã thuyết giảng Giáo pháp bằng nhiều phương pháp vì mục đích ly tham, không phải vì mục đích tham ái ... (vân vân) ... đã giảng về sự lắng dịu của các cơn thiêu đốt do dục vọng đó sao! Này hiền giả, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sanh đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng. Mà này hiền giả, việc này chỉ làm cho những người chưa có đức tin càng thêm không có đức tin, và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.” Sau đó, các vị tỳ khưu kia sau khi đã quở trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương pháp đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññapessāmi dasa atthavase paṭicca—saṅghasuṭṭhutāya, saṅghaphāsutāya, dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya, pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, diṭṭhadhammikānaṁ āsavānaṁ saṁvarāya, samparāyikānaṁ āsavānaṁ paṭighātāya, appasannānaṁ pasādāya, pasannānaṁ bhiyyobhāvāya, saddhammaṭṭhitiyā, vinayānuggahāya. Evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
“Yo pana bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyya, pārājiko hoti asaṁvāso”ti.
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
Sudinnabhāṇavāro niṭṭhito.
2. Makkaṭīvatthu
“Well then, monks, I will lay down a training rule for the following ten reasons: for the well-being of the Sangha, for the comfort of the Sangha, for the restraint of bad people, for the ease of good monks, for the restraint of the corruptions relating to the present life, for the restraint of the corruptions relating to future lives, to give rise to confidence in those without it, to increase the confidence of those who have it, for the longevity of the true Teaching, and for supporting the training. And, monks, this training rule should be recited like this:
First preliminary ruling
‘If a monk has sexual intercourse, he is expelled and excluded from the community.’”
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
The section for recitation on Sudinna is finished.
Second substory: the account of the female monkey
Như vậy, học giới này đã được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vesāliyaṁ mahāvane makkaṭiṁ āmisena upalāpetvā tassā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati. Atha kho so bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaraṁ ādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū senāsanacārikaṁ āhiṇḍantā yena tassa bhikkhuno vihāro tenupasaṅkamiṁsu. Addasa kho sā makkaṭī te bhikkhū dūratova āgacchante. Disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tesaṁ bhikkhūnaṁ purato kaṭimpi cālesi cheppampi cālesi, kaṭimpi oḍḍi, nimittampi akāsi. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho so bhikkhu imissā makkaṭiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevatī”ti. Ekamantaṁ nilīyiṁsu. Atha kho so bhikkhu vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā piṇḍapātaṁ ādāya paṭikkami. Atha kho sā makkaṭī yena so bhikkhu tenupasaṅkami. Atha kho so bhikkhu taṁ piṇḍapātaṁ ekadesaṁ bhuñjitvā ekadesaṁ tassā makkaṭiyā adāsi. Atha kho sā makkaṭī taṁ piṇḍapātaṁ bhuñjitvā tassa bhikkhuno kaṭiṁ oḍḍi. Atha kho so bhikkhu tassā makkaṭiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Atha kho te bhikkhū taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“nanu, āvuso, bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ; kissa tvaṁ, āvuso, makkaṭiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevasī”ti?
“Saccaṁ, āvuso, bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ; tañca kho manussitthiyā, no tiracchānagatāyā”ti.
“Nanu, āvuso, tatheva taṁ hoti. Ananucchavikaṁ, āvuso, ananulomikaṁ appaṭirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, āvuso, evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā na sakkhissasi yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Nanu, āvuso, bhagavatā anekapariyāyena virāgāya dhammo desito, no sarāgāya …pe… kāmapariḷāhānaṁ vūpasamo akkhāto. Netaṁ, āvuso, appasannānaṁ vā pasādāya pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya. Atha khvetaṁ, āvuso, appasannānañceva appasādāya, pasannānañca ekaccānaṁ aññathattāyā”ti.
Atha kho te bhikkhū taṁ bhikkhuṁ anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Sometime later, in the Great Wood near Vesālī, a certain monk befriended a female monkey by giving her food. He then had sexual intercourse with her. Soon afterwards, after robing up in the morning, he took his bowl and robe and entered Vesālī for alms.
Just then a number of monks who were walking about the dwellings came to the one belonging to this monk. The female monkey saw those monks coming. She went up to them, shook her buttocks in front of them, wagged her tail, presented her backside, and made a gesture. The monks thought, “This monk must be having sexual intercourse with this monkey,” and they hid to one side. Then, when that monk had finished his almsround in Vesālī and had returned with his almsfood, he ate one part himself and gave the rest to that female monkey. After eating the food, the monkey presented her buttocks to the monk, and he had sexual intercourse with her.
The other monks said to him, “Hasn’t a training rule been laid down by the Buddha? Why then do you have sexual intercourse with a monkey?”
“It’s true that a training rule has been laid down by the Buddha, but it concerns women, not animals.”
“But that’s just the same. It’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you go forth on such a well-proclaimed spiritual path and not be able to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end? Hasn’t the Buddha given many teachings for the sake of dispassion … the stilling of the fevers of worldly pleasures? This will affect people’s confidence, and cause some to lose it.”
After rebuking that monk in many ways, they told the Buddha.
Câu chuyện về con khỉ cái đã kết thúc.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā taṁ bhikkhuṁ paṭipucchi—“saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, makkaṭiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā na sakkhissasi yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena virāgāya dhammo desito, no sarāgāya …pe… kāmapariḷāhānaṁ vūpasamo akkhāto. Varaṁ te, moghapurisa, āsivisassa ghoravisassa mukhe aṅgajātaṁ pakkhittaṁ, na tveva makkaṭiyā aṅgajāte aṅgajātaṁ pakkhittaṁ. Varaṁ te, moghapurisa, kaṇhasappassa mukhe aṅgajātaṁ pakkhittaṁ, na tveva makkaṭiyā aṅgajāte aṅgajātaṁ pakkhittaṁ. Varaṁ te, moghapurisa, aṅgārakāsuyā ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya aṅgajātaṁ pakkhittaṁ, na tveva makkaṭiyā aṅgajāte aṅgajātaṁ pakkhittaṁ. Taṁ kissa hetu? Tatonidānañhi, moghapurisa, maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ; na tveva tappaccayā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Itonidānañca kho, moghapurisa, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya. Tattha nāma tvaṁ, moghapurisa, yaṁ tvaṁ asaddhammaṁ gāmadhammaṁ vasaladhammaṁ duṭṭhullaṁ odakantikaṁ rahassaṁ dvayaṁdvayasamāpattiṁ samāpajjissasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe…
evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
The Buddha then had the Sangha of monks gathered and questioned that monk: “Is it true, monk, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “Foolish man, it’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you go forth on such a well-proclaimed spiritual path and not be able to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end? Haven’t I given many teachings for the sake of dispassion … for the stilling of the fevers of worldly desire? It would be better, foolish man, for your penis to enter the mouth of a highly venomous snake than to enter a female monkey. It would be better for your penis to enter the mouth of a black snake than to enter a female monkey. It would be better for your penis to enter a blazing charcoal pit than to enter a female monkey. Why is that? For although it might cause death or death-like suffering, it would not cause you to be reborn in a bad destination. But <em>this</em> might. Foolish man, you’ve practiced what is contrary to the true Teaching, the common practice, the low practice, the coarse practice, that which ends with a wash, that which is done in private, that which is done wherever there are couples. This will affect people’s confidence …” …
“And so, monks, this training rule should be recited like this:
Second preliminary ruling
42. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi cho triệu tập hội chúng tỳ khưu đã hỏi vị tỳ khưu ấy: “Này tỳ khưu, có thật là ngươi đã thực hành pháp dâm dục với con khỉ cái không?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn, đã quở trách: “Này kẻ trống rỗng kia, (việc này) là không thích hợp, không thuận theo, không tương xứng, không phải là hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ trống rỗng kia, tại sao ngươi, sau khi đã xuất gia trong Giáo pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vậy, lại không thể thực hành phạm hạnh cho được trọn vẹn và thanh tịnh cho đến trọn đời! Này kẻ trống rỗng kia, chẳng phải ta đã thuyết giảng Giáo pháp bằng nhiều phương pháp vì mục đích ly tham, không phải vì mục đích tham ái ... (vân vân) ... đã giảng về sự lắng dịu của các cơn thiêu đốt do dục vọng đó sao! Này kẻ trống rỗng kia, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào trong miệng của loài rắn độc có nọc độc ghê gớm, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào trong bộ phận sinh dục của con khỉ cái. Này kẻ trống rỗng kia, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào trong miệng của loài rắn hổ mang, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào trong bộ phận sinh dục của con khỉ cái. Này kẻ trống rỗng kia, thà rằng ngươi đặt bộ phận sinh dục vào trong hố than đang cháy đỏ, đang bốc cháy, đang rực lửa, còn hơn là đặt bộ phận sinh dục vào trong bộ phận sinh dục của con khỉ cái. Vì sao vậy? Này kẻ trống rỗng kia, vì nhân duyên ấy, người ấy có thể đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần bằng cái chết; nhưng do nhân duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn này kẻ trống rỗng kia, do nhân duyên này, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ trống rỗng kia, trong trường hợp như thế, tại sao ngươi lại có thể thực hành điều phi pháp, pháp của dân làng, pháp của kẻ hạ tiện, việc thô bỉ, việc có sự rửa ráy làm kết cuộc, việc làm lén lút, sự giao hợp của đôi lứa! Này kẻ trống rỗng kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sanh đức tin ... (vân vân) ... Và này các tỳ khưu, các con hãy nên đọc lên học giới này như vầy: –
“Yo pana bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyya antamaso tiracchānagatāyapi, pārājiko hoti asaṁvāso”ti.
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
Makkaṭīvatthu niṭṭhitaṁ.
‘If a monk has sexual intercourse, even with a female animal, he is expelled and excluded from the community.’”
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
The account of the female monkey is finished.
“Vị tỳ khưu nào thực hành pháp dâm dục, cho đến cả với loài bàng sanh cái, thì bị phạm tội pārājika, không được sống chung.”
3. Santhatabhāṇavāra
Third substory: the section for recitation on covering
Phẩm Tụng về Tấm Nỉ.
Tena kho pana samayena sambahulā vesālikā vajjiputtakā bhikkhū yāvadatthaṁ bhuñjiṁsu, yāvadatthaṁ supiṁsu, yāvadatthaṁ nhāyiṁsu. Yāvadatthaṁ bhuñjitvā yāvadatthaṁ supitvā yāvadatthaṁ nhāyitvā ayoniso manasi karitvā sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu. Te aparena samayena ñātibyasanenapi phuṭṭhā bhogabyasanenapi phuṭṭhā rogabyasanenapi phuṭṭhā āyasmantaṁ ānandaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—
“na mayaṁ, bhante ānanda, buddhagarahino na dhammagarahino na saṅghagarahino; attagarahino mayaṁ, bhante ānanda, anaññagarahino. Mayamevamhā alakkhikā mayaṁ appapuññā, ye mayaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā nāsakkhimhā yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Idāni cepi mayaṁ, bhante ānanda, labheyyāma bhagavato santike pabbajjaṁ labheyyāma upasampadaṁ, idānipi mayaṁ vipassakā kusalānaṁ dhammānaṁ pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhikānaṁ dhammānaṁ bhāvanānuyogamanuyuttā vihareyyāma. Sādhu, bhante ānanda, bhagavato etamatthaṁ ārocehī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā ānando vesālikānaṁ vajjiputtakānaṁ paṭissuṇitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
Soon afterwards there were a number of Vajjian monks from Vesālī who ate, slept, and bathed as much as they liked. Then, not reflecting properly and without first renouncing the training and revealing their weakness, they had sexual intercourse. After some time they were affected by loss of relatives, loss of property, and loss of health. They then went to Venerable Ānanda and said,
“Venerable Ānanda, we don’t blame the Buddha, the Teaching, or the Sangha; we only have ourselves to blame. We were unfortunate and had little merit—after going forth on such a well-proclaimed spiritual path, we were unable to practice the perfectly complete and pure spiritual life to the end. If we were now to get the going forth and the full ordination in the presence of the Buddha, we would have clarity about wholesome qualities and be devoted day in and day out to developing the aids to awakening. Venerable Ānanda, please inform the Buddha.”
Saying, “Yes,” he went to the Buddha and told him.
43. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu là con cháu của dòng dõi Vajjī ở Vesālī đã ăn thỏa thích, đã ngủ thỏa thích, đã tắm thỏa thích. Sau khi đã ăn thỏa thích, đã ngủ thỏa thích, đã tắm thỏa thích, đã tác ý không như lý, không từ bỏ học giới, không bộc lộ sự yếu kém, các vị ấy đã thực hành pháp dâm. Vào một thời gian sau, các vị ấy bị xúc chạm bởi sự tổn thất về quyến thuộc, bị xúc chạm bởi sự tổn thất về của cải, bị xúc chạm bởi sự tổn thất về bệnh tật, đã đi đến gặp trưởng lão Ānanda và nói như vầy: ‘Thưa ngài Ānanda, chúng tôi không phải là những người chê bai đức Phật, không phải là những người chê bai Pháp, không phải là những người chê bai chúng Tăng; thưa ngài Ānanda, chúng tôi là những người tự chê bai mình, không phải là những người chê bai kẻ khác. Chính chúng tôi là những người không có phước đức, chính chúng tôi là những người ít phước, những người chúng tôi, sau khi đã xuất gia trong Giáo Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như thế này, đã không có khả năng thực hành phạm hạnh trọn vẹn, thanh tịnh cho đến trọn đời. Thưa ngài Ānanda, nếu như bây giờ chúng tôi được xuất gia, được thọ cụ túc giới nơi sự hiện diện của đức Thế Tôn, thì ngay cả bây giờ, chúng tôi sẽ sống chuyên tâm nỗ lực trong việc tu tập các pháp trợ Bồ-đề, là những người quán thấy các thiện pháp, suốt cả canh đầu và canh cuối của đêm. Lành thay, thưa ngài Ānanda, xin ngài hãy trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn.’ Trưởng lão Ānanda sau khi đã nhận lời với các vị tỳ khưu là con cháu của dòng dõi Vajjī ở Vesālī rằng: ‘Thưa các hiền hữu, xin vâng,’ đã đi đến nơi đức Thế Tôn ngự; sau khi đến, đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Aṭṭhānametaṁ, ānanda, anavakāso yaṁ tathāgato vajjīnaṁ vā vajjiputtakānaṁ vā kāraṇā sāvakānaṁ pārājikaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ samūhaneyyā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“yo, bhikkhave, sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati so āgato na upasampādetabbo.
“It’s impossible, Ānanda, that the Buddha should abolish a training rule that entails expulsion because of the Vajjians.”
The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“Monks, if someone, without first renouncing the training and revealing their weakness, has sexual intercourse, they may not receive the full ordination once again.
‘Này Ānanda, đây không phải là cơ sở, không phải là trường hợp mà Như Lai, vì lý do của những người Vajjī hay con cháu của dòng dõi Vajjī, lại có thể hủy bỏ học giới pārājika đã được chế định cho các vị đệ tử.’
Evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
And so, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, sau khi đã thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào không từ bỏ học giới, không bộc lộ sự yếu kém, mà thực hành pháp dâm, vị ấy khi đến thì không nên được cho thọ cụ túc giới; và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi đã từ bỏ học giới, đã bộc lộ sự yếu kém, mà thực hành pháp dâm, vị ấy khi đến thì nên được cho thọ cụ túc giới. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên tuyên đọc học giới này như vầy: –
“Yo pana bhikkhu bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyya, antamaso tiracchānagatāyapi, pārājiko hoti asaṁvāso”ti.
- Yo panāti
‘If a monk, after taking on the monks’ training and way of life, without first renouncing the training and revealing his weakness, has sexual intercourse, even with a female animal, he is expelled and excluded from the community.’”
Definitions
- A:
44. ‘Vị tỳ khưu nào đã chấp nhận học giới và đời sống chung của các tỳ khưu, không từ bỏ học giới, không bộc lộ sự yếu kém, mà thực hành pháp dâm, cho đến cả với con vật cái, thì bị pārājika, không được sống chung.’
45. Về câu ‘Vị nào,’ vị nào, bất kể có đặc tính nào, bất kể có phận sự nào, bất kể thuộc dòng dõi nào, bất kể có tên gọi nào, bất kể có thị tộc nào, bất kể có giới hạnh nào, bất kể có cách sống nào, bất kể có cảnh giới hành hoạt nào, dù là trưởng lão, hay là vị mới, hay là vị trung bình. Vị ấy được gọi là ‘vị nào.’
Về từ ‘tỳ khưu,’ là tỳ khưu vì là người khất thực, là tỳ khưu vì thực hành việc đi khất thực, là tỳ khưu vì mặc y phấn tảo, là tỳ khưu theo danh xưng, là tỳ khưu do tự nhận, là tỳ khưu do (lời gọi) ‘hãy đến, tỳ khưu,’ là tỳ khưu do được thọ cụ túc giới bằng ba pháp quy y, là tỳ khưu vì hiền thiện, là tỳ khưu vì có cốt lõi, là tỳ khưu vì là bậc hữu học, là tỳ khưu vì là bậc vô học, là tỳ khưu do được thọ cụ túc giới bởi chúng Tăng hòa hợp bằng một hành sự có bạch và ba lần tuyên cáo, không thể bị hủy bỏ, phù hợp với cơ sở. Trong số đó, vị tỳ khưu nào được thọ cụ túc giới bởi chúng Tăng hòa hợp bằng một hành sự có bạch và ba lần tuyên cáo, không thể bị hủy bỏ, phù hợp với cơ sở, vị tỳ khưu này được chủ định trong trường hợp này với từ ‘tỳ khưu.’
Về từ ‘học giới,’ có ba học giới: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Trong số đó, tăng thượng giới học nào, học giới này được chủ định trong trường hợp này với từ ‘học giới.’
Được gọi là đời sống chung (sājīva) là học giới nào đã được đức Thế Tôn chế định, điều ấy được gọi là đời sống chung. Vị ấy học tập trong đó, do đó, được gọi là ‘đã chấp nhận đời sống chung.’
atthi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā; atthi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā.
“There is, monks, a revealing of weakness without the training being renounced; and there is a revealing of weakness together with the training being renounced.
Về câu ‘không từ bỏ học giới, không bộc lộ sự yếu kém,’ này các tỳ khưu, có trường hợp vừa là việc bộc lộ sự yếu kém, mà học giới lại không được từ bỏ; này các tỳ khưu, có trường hợp vừa là việc bộc lộ sự yếu kém, mà học giới lại được từ bỏ.
Kathañca, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Idha, bhikkhave, bhikkhu ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno upāsakabhāvaṁ patthayamāno ārāmikabhāvaṁ patthayamāno sāmaṇerabhāvaṁ patthayamāno titthiyabhāvaṁ patthayamāno titthiyasāvakabhāvaṁ patthayamāno assamaṇabhāvaṁ patthayamāno asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“yannūnāhaṁ buddhaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
And how is there a revealing of weakness without the training being renounced?
It may be that a monk is dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder, longing to be a lay follower, longing to be a monastery worker, longing to be a novice, longing to be a monastic of another religion, longing to be a lay follower of another religion, longing to be a non-ascetic, longing to be a non-monastic, and he says and declares: ‘Why don’t I renounce the Buddha?’ In this way, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
‘Và này các tỳ khưu, thế nào là trường hợp vừa là việc bộc lộ sự yếu kém, mà học giới lại không được từ bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây, một vị tỳ khưu bất mãn, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống sa-môn, cảm thấy phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm thân phận tỳ khưu, mong muốn thân phận người tại gia, mong muốn thân phận cận sự nam, mong muốn thân phận người giữ vườn, mong muốn thân phận sa-di, mong muốn thân phận ngoại đạo, mong muốn thân phận đệ tử ngoại đạo, mong muốn thân phận không phải sa-môn, mong muốn thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác biết rằng: ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ đức Phật.’ Này các tỳ khưu, ngay cả như vậy, đây vừa là việc bộc lộ sự yếu kém, mà học giới lại không được từ bỏ.
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“yannūnāhaṁ dhammaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti …pe… “yannūnāhaṁ saṅghaṁ … yannūnāhaṁ sikkhaṁ … yannūnāhaṁ vinayaṁ … yannūnāhaṁ pātimokkhaṁ … yannūnāhaṁ uddesaṁ … yannūnāhaṁ upajjhāyaṁ … yannūnāhaṁ ācariyaṁ … yannūnāhaṁ saddhivihārikaṁ … yannūnāhaṁ antevāsikaṁ … yannūnāhaṁ samānupajjhāyakaṁ … yannūnāhaṁ samānācariyakaṁ … yannūnāhaṁ sabrahmacāriṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti. “Yannūnāhaṁ gihī assan”ti vadati viññāpeti. “Yannūnāhaṁ upāsako assan”ti … “yannūnāhaṁ ārāmiko assan”ti … “yannūnāhaṁ sāmaṇero assan”ti … “yannūnāhaṁ titthiyo assan”ti … “yannūnāhaṁ titthiyasāvako assan”ti … “yannūnāhaṁ assamaṇo assan”ti … “yannūnāhaṁ asakyaputtiyo assan”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘Why don’t I renounce the Teaching?’ … the Sangha?’ … the practice?’ … the training?’ … the Monastic Code?’ … the recitation?’ … my preceptor?’ … my teacher?’ … my student?’ … my pupil?’ … my co-student?’ … my co-pupil?’ … he says and declares: ‘Why don’t I renounce my fellow monastics?’ … ‘Why don’t I become a householder?’ … ‘Why don’t I become a lay follower?’ … ‘Why don’t I become a monastery worker?’ … ‘Why don’t I become a novice?’ … ‘Why don’t I become a monastic of another religion?’ … ‘Why don’t I become a lay follower of another religion?’ … ‘Why don’t I become a non-ascetic?’ … ‘Why don’t I become a non-monastic?’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
“Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi thân phận người tại gia ... đang mong mỏi thân phận không phải là người con trai của dòng họ Sakya, rồi nói hay trình bày rằng: ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ Giáo Pháp.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ Tăng chúng.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ học pháp.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ Luật.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ Pātimokkha.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ sự thuyết giảng.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ thầy tế độ.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ thầy dạy.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ đệ tử cùng ở.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ đệ tử gần gũi.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ người cùng thầy tế độ.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ người cùng thầy dạy.’ ... ‘Chắc chắn ta nên từ bỏ vị đồng phạm hạnh.’ Hoặc nói hay trình bày rằng: ‘Chắc chắn ta nên là người tại gia.’ Hoặc nói hay trình bày rằng: ‘Chắc chắn ta nên là người cận sự nam.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là người giữ vườn.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là vị Sa-di.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là người theo ngoại đạo.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là người đệ tử của ngoại đạo.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là người không phải Sa-môn.’ ... ‘Chắc chắn ta nên là người không phải là con trai của dòng họ Sakya.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng chỉ là sự biểu lộ sự yếu đuối và học pháp vẫn chưa được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“yadi panāhaṁ buddhaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti …pe… “yadi panāhaṁ asakyaputtiyo assan”ti vadati viññāpeti …pe… “apāhaṁ buddhaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti …pe… “apāhaṁ asakyaputtiyo assan”ti vadati viññāpeti …pe… “handāhaṁ buddhaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti …pe… “handāhaṁ asakyaputtiyo assan”ti vadati viññāpeti …pe… “hoti me buddhaṁ paccakkheyyan”ti vadati viññāpeti …pe… “hoti me asakyaputtiyo assan”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘What if I renounced the Buddha?’ … he says and declares: ‘What if I were a non-monastic?’ … he says and declares: ‘Perhaps I should renounce the Buddha?’ … he says and declares: ‘Perhaps I should be a non-monastic?’ … he says and declares: ‘Well then, I should renounce the Buddha.’ … he says and declares: ‘Well then, I should be a non-monastic.’ … he says and declares: ‘I think I should renounce the Buddha.’ … he says and declares: ‘I think I should be a non-monastic.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
46. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi thân phận người tại gia ... đang mong mỏi thân phận không phải là người con trai của dòng họ Sakya, rồi nói hay trình bày rằng: ‘Giá như mà ta từ bỏ đức Phật.’ ... ‘Giá như mà ta không phải là con trai của dòng họ Sakya.’ ... ‘Ước gì ta từ bỏ đức Phật.’ ... ‘Ước gì ta không phải là con trai của dòng họ Sakya.’ ... ‘Thôi nào, ta hãy từ bỏ đức Phật.’ ... ‘Thôi nào, ta hãy là người không phải con trai của dòng họ Sakya.’ ... ‘Hay là ta từ bỏ đức Phật.’ ... ‘Hay là ta không phải là con trai của dòng họ Sakya.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng chỉ là sự biểu lộ sự yếu đuối và học pháp vẫn chưa được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno “mātaraṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “pitaraṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “bhātaraṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “bhaginiṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “puttaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “dhītaraṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “pajāpatiṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “ñātake sarāmī”ti vadati viññāpeti … “mitte sarāmī”ti vadati viññāpeti … “gāmaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “nigamaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “khettaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “vatthuṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “hiraññaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “suvaṇṇaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “sippaṁ sarāmī”ti vadati viññāpeti … “pubbe hasitaṁ lapitaṁ kīḷitaṁ samanussarāmī”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘I remember my mother.’ … ‘I remember my father.’ … ‘I remember my brother.’ … ‘I remember my sister.’ … ‘I remember my son.’ … ‘I remember my daughter.’ … ‘I remember my wife.’ … ‘I remember my relations.’ … ‘I remember my friends.’ … ‘I remember my village.’ … ‘I remember my town.’ … ‘I remember my fields.’ … ‘I remember my land.’ … ‘I remember my money.’ … ‘I remember my gold.’ … ‘I remember my profession.’ … he says and declares: ‘I remember my former laughter, chatter, and play.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
47. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi thân phận người tại gia ... đang mong mỏi thân phận không phải là người con trai của dòng họ Sakya, rồi nói hay trình bày rằng: ‘Ta nhớ mẹ.’ ... ‘Ta nhớ cha.’ ... ‘Ta nhớ anh em trai.’ ... ‘Ta nhớ chị em gái.’ ... ‘Ta nhớ con trai.’ ... ‘Ta nhớ con gái.’ ... ‘Ta nhớ vợ.’ ... ‘Ta nhớ bà con quyến thuộc.’ ... ‘Ta nhớ bạn bè.’ ... ‘Ta nhớ làng.’ ... ‘Ta nhớ thị trấn.’ ... ‘Ta nhớ ruộng.’ ... ‘Ta nhớ đất đai.’ ... ‘Ta nhớ bạc.’ ... ‘Ta nhớ vàng.’ ... ‘Ta nhớ nghề nghiệp.’ ... ‘Ta thường nhớ lại việc cười nói, vui đùa trong quá khứ.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng chỉ là sự biểu lộ sự yếu đuối và học pháp vẫn chưa được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“mātā me atthi, sā mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti … “pitā me atthi, so mayā posetabbo”ti vadati viññāpeti … “bhātā me atthi, so mayā posetabbo”ti vadati viññāpeti … “bhaginī me atthi, sā mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti … “putto me atthi, so mayā posetabbo”ti vadati viññāpeti … “dhītā me atthi, sā mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti … “pajāpati me atthi, sā mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti … “ñātakā me atthi, te mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti … “mittā me atthi, te mayā posetabbā”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘I have a mother who should be supported by me.’ … ‘I have a father … ‘I have a brother … ‘I have a sister … ‘I have a son … ‘I have a daughter … ‘I have a wife … ‘I have relations … he says and declares: ‘I have friends who should be supported by me.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
48. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi thân phận người tại gia ... đang mong mỏi thân phận không phải là người con trai của dòng họ Sakya, rồi nói hay trình bày rằng: ‘Ta có mẹ, ta phải nuôi dưỡng mẹ.’ ... ‘Ta có cha, ta phải nuôi dưỡng cha.’ ... ‘Ta có anh em trai, ta phải nuôi dưỡng anh em trai.’ ... ‘Ta có chị em gái, ta phải nuôi dưỡng chị em gái.’ ... ‘Ta có con trai, ta phải nuôi dưỡng con trai.’ ... ‘Ta có con gái, ta phải nuôi dưỡng con gái.’ ... ‘Ta có vợ, ta phải nuôi dưỡng vợ.’ ... ‘Ta có bà con quyến thuộc, ta phải nuôi dưỡng họ.’ ... ‘Ta có bạn bè, ta phải nuôi dưỡng họ.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng chỉ là sự biểu lộ sự yếu đuối và học pháp vẫn chưa được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“mātā me atthi, sā maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “pitā me atthi, so maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “bhātā me atthi, so maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “bhaginī me atthi, sā maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “putto me atthi, so maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “dhītā me atthi, sā maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “pajāpati me atthi, sā maṁ posessatī”ti vadati viññāpeti … “ñātakā me atthi, te maṁ posessantī”ti vadati viññāpeti … “mittā me atthi, te maṁ posessantī”ti vadati viññāpeti … “gāmo me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “nigamo me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “khettaṁ me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “vatthu me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “hiraññaṁ me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “suvaṇṇaṁ me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti … “sippaṁ me atthi, tenāhaṁ jīvissāmī”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘I have a mother; she’ll support me.’ … ‘I have a father; he’ll support me.’ … ‘I have a brother; he’ll support me.’ … ‘I have a sister; she’ll support me.’ … ‘I have a son; he’ll support me.’ … ‘I have a daughter; she’ll support me.’ … ‘I have a wife; she’ll support me.’ … ‘I have relations; they’ll support me.’ … ‘I have friends; they’ll support me.’ … ‘I have a village; I’ll live by means of it.’ … ‘I have a town; I’ll live by means of it.’ … ‘I have fields; I’ll live by means of them.’ … ‘I have land; I’ll live by means of it.’ … ‘I have money; I’ll live by means of it.’ … ‘I have gold; I’ll live by means of it.’ … he says and declares: ‘I have a profession; I’ll live by means of it.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
49. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi đời sống tại gia ... cho đến ... đang mong mỏi thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác hiểu rằng: ‘Tôi có mẹ, bà ấy sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có cha, ông ấy sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có anh em, người ấy sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có chị em, người ấy sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có con trai, nó sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có con gái, nó sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có vợ, bà ấy sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có bà con, họ sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có bạn bè, họ sẽ nuôi tôi.’ ... ‘Tôi có làng mạc, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có thị trấn, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có ruộng đất, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có đất vườn, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có bạc, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có vàng, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ ... ‘Tôi có nghề nghiệp, tôi sẽ sinh sống bằng phương tiện ấy.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng là sự biểu lộ sự yếu đuối và học giới vẫn chưa được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno “dukkaran”ti vadati viññāpeti … “na sukaran”ti vadati viññāpeti … “duccaran”ti vadati viññāpeti … “na sucaran”ti vadati viññāpeti … “na ussahāmī”ti vadati viññāpeti … “na visahāmī”ti vadati viññāpeti … “na ramāmī”ti vadati viññāpeti … “nābhiramāmī”ti vadati viññāpeti. Evampi kho, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca apaccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘This is difficult to do.’ … ‘This isn’t easy to do.’ … ‘This is difficult.’ … ‘This isn’t easy.’ … ‘I can’t endure.’ … ‘I’m unable.’ … ‘I don’t enjoy myself.’ … ‘I take no delight.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness without the training being renounced.
50. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi đời sống tại gia ... cho đến ... đang mong mỏi thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác hiểu rằng: ‘Thật khó làm.’ ... ‘Không dễ làm.’ ... ‘Thật khó thực hành.’ ... ‘Không dễ thực hành.’ ... ‘Tôi không thể cố gắng.’ ... ‘Tôi không thể chịu đựng.’ ... ‘Tôi không hoan hỷ.’ ... ‘Tôi không thích thú.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng là sự biểu lộ sự yếu đuối và học giới vẫn chưa được từ bỏ.”
Kathañca, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“buddhaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā.
And how is there a revealing of weakness together with the training being renounced?
It may be that a monk is dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, and he says and declares: ‘I renounce the Buddha.’ In this way, monks, there’s a revealing of weakness together with the training being renounced.
51. “Này các tỳ khưu, thế nào là trường hợp vừa là sự biểu lộ sự yếu đuối vừa là học giới đã được từ bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi đời sống tại gia ... cho đến ... đang mong mỏi thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác hiểu rằng: ‘Tôi từ bỏ đức Phật.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng là sự biểu lộ sự yếu đuối và học giới đã được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“dhammaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “saṅghaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “sikkhaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “vinayaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “pātimokkhaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “uddesaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “upajjhāyaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “ācariyaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “saddhivihārikaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “antevāsikaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “samānupajjhāyakaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “samānācariyakaṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “sabrahmacāriṁ paccakkhāmī”ti vadati viññāpeti … “gihīti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “upāsakoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “ārāmikoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “sāmaṇeroti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “titthiyoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “titthiyasāvakoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “assamaṇoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti … “asakyaputtiyoti maṁ dhārehī”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘I renounce the Teaching.’ … ‘I renounce the Sangha.’ … ‘I renounce the practice.’ … ‘I renounce the training.’ … ‘I renounce the Monastic Code.’ … ‘I renounce the recitation.’ … ‘I renounce my preceptor.’ … ‘I renounce my teacher.’ … ‘I renounce my student.’ … ‘I renounce my pupil.’ … ‘I renounce my co-student.’ … ‘I renounce my co-pupil.’ … ‘I renounce my fellow monastics.’ … ‘Consider me a householder.’ … ‘Consider me a lay follower.’ … ‘Consider me a monastery worker.’ … ‘Consider me a novice monk.’ … ‘Consider me a monastic of another religion.’ … ‘Consider me a lay follower of another religion.’ … ‘Consider me a non-ascetic.’ … ‘Consider me a non-monastic.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness together with the training being renounced.
“Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi đời sống tại gia ... cho đến ... đang mong mỏi thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác hiểu rằng: ‘Tôi từ bỏ Giáo Pháp.’ ... ‘Tôi từ bỏ Tăng chúng.’ ... ‘Tôi từ bỏ học giới.’ ... ‘Tôi từ bỏ Luật.’ ... ‘Tôi từ bỏ Pātimokkha.’ ... ‘Tôi từ bỏ sự tụng đọc.’ ... ‘Tôi từ bỏ thầy tế độ.’ ... ‘Tôi từ bỏ vị thầy.’ ... ‘Tôi từ bỏ vị đệ tử cùng ở.’ ... ‘Tôi từ bỏ vị đệ tử thân cận.’ ... ‘Tôi từ bỏ người có cùng thầy tế độ.’ ... ‘Tôi từ bỏ người có cùng vị thầy.’ ... ‘Tôi từ bỏ bạn đồng phạm hạnh.’ ... ‘Hãy xem tôi là người tại gia.’ ... ‘Hãy xem tôi là cận sự nam.’ ... ‘Hãy xem tôi là người giữ vườn.’ ... ‘Hãy xem tôi là Sa-di.’ ... ‘Hãy xem tôi là người ngoại đạo.’ ... ‘Hãy xem tôi là đệ tử của ngoại đạo.’ ... ‘Hãy xem tôi là người không phải Sa-môn.’ ... ‘Hãy xem tôi là người không phải Thích tử.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng là sự biểu lộ sự yếu đuối và học giới đã được từ bỏ.”
Atha vā pana ukkaṇṭhito anabhirato sāmaññā cavitukāmo bhikkhubhāvaṁ aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno gihibhāvaṁ patthayamāno …pe… asakyaputtiyabhāvaṁ patthayamāno—“alaṁ me buddhenā”ti vadati viññāpeti …pe… “alaṁ me sabrahmacārīhī”ti vadati viññāpeti. Evampi …pe…
atha vā pana …pe… “kiṁ nu me buddhenā”ti vadati viññāpeti …pe… “kiṁ nu me sabrahmacārīhī”ti vadati viññāpeti …
“na mamattho buddhenā”ti vadati viññāpeti …pe… “na mamattho sabrahmacārīhī”ti vadati viññāpeti …
“sumuttāhaṁ buddhenā”ti vadati viññāpeti …pe… “sumuttāhaṁ sabrahmacārīhī”ti vadati viññāpeti. Evampi, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā.
Or again, dissatisfied, discontent, desiring to give up the monastic life; troubled, ashamed, and disgusted with the monkhood; longing to be a householder … longing to be a non-monastic, he says and declares: ‘I’m done with the Buddha.’ … ‘I’m done with my fellow monastics.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness together with the training being renounced.
Or again … he says and declares: ‘No more of the Buddha for me.’ … ‘No more of my fellow monastics for me.’ … ‘The Buddha is of no use to me.’ … ‘My fellow monastics are of no use to me.’ … ‘I’m well freed from the Buddha.’ … ‘I’m well freed from my fellow monastics.’ In this way too, monks, there’s a revealing of weakness together with the training being renounced.
52. “Lại nữa, vị tỳ khưu bị bức rức, không hoan hỷ, muốn từ bỏ đời sống Sa-môn, đang bị phiền muộn, hổ thẹn, ghê tởm về thân phận tỳ khưu, đang mong mỏi đời sống tại gia ... cho đến ... đang mong mỏi thân phận không phải là Thích tử, nói rằng hoặc làm cho người khác hiểu rằng: ‘Tôi đã đủ với đức Phật rồi.’ ... cho đến ... ‘Tôi đã đủ với các bạn đồng phạm hạnh rồi.’ ... Lại nữa ... ‘Đức Phật có ích gì cho tôi chứ?’ ... cho đến ... ‘Các bạn đồng phạm hạnh có ích gì cho tôi chứ?’ ... ‘Tôi không có lợi ích gì với đức Phật.’ ... cho đến ... ‘Tôi không có lợi ích gì với các bạn đồng phạm hạnh.’ ... ‘Tôi đã được giải thoát khỏi đức Phật.’ ... cho đến ... ‘Tôi đã được giải thoát khỏi các bạn đồng phạm hạnh.’ Này các tỳ khưu, trường hợp như vậy cũng là sự biểu lộ sự yếu đuối và học giới đã được từ bỏ.”
Yāni vā panaññānipi atthi buddhavevacanāni vā dhammavevacanāni vā saṅghavevacanāni vā sikkhāvevacanāni vā vinayavevacanāni vā pātimokkhavevacanāni vā uddesavevacanāni vā upajjhāyavevacanāni vā ācariyavevacanāni vā saddhivihārikavevacanāni vā antevāsikavevacanāni vā samānupajjhāyakavevacanāni vā samānācariyakavevacanāni vā sabrahmacārivevacanāni vā gihivevacanāni vā upāsakavevacanāni vā ārāmikavevacanāni vā sāmaṇeravevacanāni vā titthiyavevacanāni vā titthiyasāvakavevacanāni vā assamaṇavevacanāni vā asakyaputtiyavevacanāni vā, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi vadati viññāpeti. Evaṁ kho, bhikkhave, dubbalyāvikammañceva hoti sikkhā ca paccakkhātā.
Or whatever other synonyms there are for the Buddha, for the Teaching, for the Sangha, for the practice, for the training, for the Monastic Code, for the recitation, for a preceptor, for a teacher, for a student, for a pupil, for a co-student, for a co-pupil, for a fellow monastic, for a householder, for a lay follower, for a monastery worker, for a novice monk, for a monastic of another religion, for a lay follower of another religion, for a non-ascetic, or for a non-monastic—he speaks and declares by way of these indications, by way of these marks, by way of these signs. In this way, monks, there’s a revealing of weakness together with the training being renounced.
53. Hoặc lại nữa, có những từ đồng nghĩa khác với Phật, hoặc từ đồng nghĩa với Pháp, hoặc từ đồng nghĩa với Tăng, hoặc từ đồng nghĩa với học giới, hoặc từ đồng nghĩa với Luật, hoặc từ đồng nghĩa với Pātimokkha, hoặc từ đồng nghĩa với sự tụng đọc, hoặc từ đồng nghĩa với thầy tế độ, hoặc từ đồng nghĩa với thầy dạy học, hoặc từ đồng nghĩa với vị sống chung, hoặc từ đồng nghĩa với đệ tử, hoặc từ đồng nghĩa với người cùng thầy tế độ, hoặc từ đồng nghĩa với người cùng thầy dạy học, hoặc từ đồng nghĩa với bạn đồng phạm hạnh, hoặc từ đồng nghĩa với người tại gia, hoặc từ đồng nghĩa với cận sự nam, hoặc từ đồng nghĩa với người giữ vườn, hoặc từ đồng nghĩa với sa-di, hoặc từ đồng nghĩa với ngoại đạo, hoặc từ đồng nghĩa với đệ tử ngoại đạo, hoặc từ đồng nghĩa với người không phải sa-môn, hoặc từ đồng nghĩa với người không phải là Thích tử; vị ấy nói hay làm cho hiểu bằng những cách thức ấy, bằng những dấu hiệu ấy, bằng những ám hiệu ấy. Này các tỳ khưu, như vậy là vừa có sự biểu lộ sự yếu đuối, vừa có sự từ bỏ học giới.
Kathañca, bhikkhave, apaccakkhātā hoti sikkhā?
Idha, bhikkhave, yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi sikkhā paccakkhātā hoti tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi ummattako sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Ummattakassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Khittacitto sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Khittacittassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Vedanāṭṭo sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Vedanāṭṭassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Devatāya santike sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Tiracchānagatassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Ariyakena milakkhassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, so ca na paṭivijānāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Milakkhakena ariyassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, so ca na paṭivijānāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Ariyakena ariyassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, so ca na paṭivijānāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Milakkhakena milakkhassa santike sikkhaṁ paccakkhāti, so ca na paṭivijānāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Davāya sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Ravāya sikkhaṁ paccakkhāti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Asāvetukāmo sāveti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Sāvetukāmo na sāveti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Aviññussa sāveti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Viññussa na sāveti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Sabbaso vā pana na sāveti, apaccakkhātā hoti sikkhā. Evaṁ kho, bhikkhave, apaccakkhātā hoti sikkhā.
And how is the training not renounced?
If you renounce the training by way of these indications, by way of these marks, by way of these signs, but you’re insane, then the training isn’t renounced. If you renounce the training to one who’s insane, the training isn’t renounced. If you renounce the training when you’re deranged, the training isn’t renounced. If you renounce the training to one who’s deranged, the training isn’t renounced. If you renounce the training when you’re overwhelmed by pain, the training isn’t renounced. If you renounce the training to one who’s overwhelmed by pain, the training isn’t renounced. If you renounce the training to a god, the training isn’t renounced. If you renounce the training to an animal, the training isn’t renounced. If an Indo-Aryan renounces the training to a non-Indo-Aryan who doesn’t understand, the training isn’t renounced. If a non-Indo-Aryan renounces the training to an Indo-Aryan who doesn’t understand, the training isn’t renounced. If an Indo-Aryan renounces the training to an Indo-Aryan who doesn’t understand, the training isn’t renounced. If a non-Indo-Aryan renounces the training to a non-Indo-Aryan who doesn’t understand, the training isn’t renounced. If you renounce the training as a joke, the training isn’t renounced. If you renounce the training because of speaking too fast, the training isn’t renounced. If you announce what you don’t wish to announce, the training isn’t renounced. If you don’t announce what you wish to announce, the training isn’t renounced. If you announce to one who doesn’t understand, the training isn’t renounced. If you don’t announce to one who understands, the training isn’t renounced. Or if you don’t make a full announcement, the training isn’t renounced. In this way, monks, the training isn’t renounced.”
54. Này các tỳ khưu, và thế nào là học giới không được từ bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây, bằng những cách thức, những dấu hiệu, những ám hiệu mà học giới được từ bỏ, bằng những cách thức ấy, những dấu hiệu ấy, những ám hiệu ấy, người điên từ bỏ học giới thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt người điên thì học giới không được từ bỏ. Người loạn trí từ bỏ học giới thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt người loạn trí thì học giới không được từ bỏ. Người bị cảm thọ đau đớn áp bức từ bỏ học giới thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt người bị cảm thọ đau đớn áp bức thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt vị trời thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt loài bàng sanh thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt người man di bằng ngôn ngữ của bậc Thánh và người ấy không hiểu thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt bậc Thánh bằng ngôn ngữ của người man di và vị ấy không hiểu thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt bậc Thánh bằng ngôn ngữ của bậc Thánh và vị ấy không hiểu thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới trước mặt người man di bằng ngôn ngữ của người man di và người ấy không hiểu thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới một cách đùa giỡn thì học giới không được từ bỏ. Từ bỏ học giới một cách lầm lẫn thì học giới không được từ bỏ. Không có ý muốn cho nghe mà làm cho nghe thì học giới không được từ bỏ. Có ý muốn cho nghe mà không làm cho nghe thì học giới không được từ bỏ. Làm cho người không hiểu biết nghe thì học giới không được từ bỏ. Không làm cho người hiểu biết nghe thì học giới không được từ bỏ. Hoặc lại nữa, hoàn toàn không làm cho nghe thì học giới không được từ bỏ. Này các tỳ khưu, như vậy là học giới không được từ bỏ.
55. Được gọi là pháp dâm dục là pháp không tốt đẹp, là pháp của dân làng, là pháp của kẻ hạ tiện, là việc thô bỉ, là việc có sự rửa sạch làm cuối cùng, là việc kín đáo, là sự giao hợp của từng đôi, đó được gọi là pháp dâm dục.
Được gọi là thực hành là người đưa bộ phận sinh dục của mình vào bộ phận sinh dục của người khác, đưa dấu hiệu của mình vào dấu hiệu của người khác, cho dù chỉ bằng hạt mè, đó được gọi là thực hành.
Câu ‘cho đến cả với con vật cái thuộc loài bàng sanh’ có nghĩa là: do thực hành pháp dâm dục cho dù với con vật cái thuộc loài bàng sanh, vị ấy không còn là sa-môn, không còn là Thích tử, huống nữa là với người nữ. Do đó, được nói rằng: ‘cho đến cả với con vật cái thuộc loài bàng sanh’.
Câu ‘bị phạm tội pārājika’ có nghĩa là: ví như người bị chặt đầu không thể sống lại bằng cách nối liền thân thể ấy, cũng vậy, tỳ khưu do thực hành pháp dâm dục nên không còn là sa-môn, không còn là Thích tử. Do đó, được nói rằng: ‘bị phạm tội pārājika’.
Permutations
Permutations part 1
Summary
Câu ‘không được sống chung’ có nghĩa là: được gọi là sống chung là cùng hành động, cùng tụng đọc, có cùng học giới – đó được gọi là sống chung. Sự sống chung ấy không còn đối với vị ấy. Do đó, được nói rằng: ‘không được sống chung’.
Tisso itthiyo—manussitthī, amanussitthī, tiracchānagatitthī. Tayo ubhatobyañjanakā—manussubhatobyañjanako, amanussubhatobyañjanako, tiracchānagatubhatobyañjanako. Tayo paṇḍakā—manussapaṇḍako, amanussapaṇḍako, tiracchānagatapaṇḍako. Tayo purisā—manussapuriso, amanussapuriso, tiracchānagatapuriso.
There are three kinds of females: a human female, a female spirit, a female animal. There are three kinds of gynandromorphs: a human gynandromorph, a gynandromorph spirit, a gynandromorph animal. There are three kinds of <i lang='pi' translate='no'>paṇḍakas</i>: a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal. There are three kinds of males: a human male, a male spirit, a male animal.
Exposition part 1
56. Có ba loại người nữ: người nữ là người, người nữ không phải là người, người nữ thuộc loài bàng sanh. Có ba loại người lưỡng tính: người lưỡng tính là người, người lưỡng tính không phải là người, người lưỡng tính thuộc loài bàng sanh. Có ba loại người á nam á nữ: người á nam á nữ là người, người á nam á nữ không phải là người, người á nam á nữ thuộc loài bàng sanh. Có ba loại người nam: người nam là người, người nam không phải là người, người nam thuộc loài bàng sanh.
Manussitthiyā tayo magge methunaṁ dhammaṁ paṭisevantassa āpatti pārājikassa—vaccamagge, passāvamagge, mukhe. Amanussitthiyā …pe… tiracchānagatitthiyā tayo magge methunaṁ dhammaṁ paṭisevantassa āpatti pārājikassa—vaccamagge, passāvamagge, mukhe. Manussubhatobyañjanakassa … amanussubhatobyañjanakassa … tiracchānagatubhatobyañjanakassa tayo magge methunaṁ dhammaṁ paṭisevantassa āpatti pārājikassa—vaccamagge, passāvamagge, mukhe. Manussapaṇḍakassa dve magge methunaṁ dhammaṁ paṭisevantassa āpatti pārājikassa—vaccamagge, mukhe. Amanussapaṇḍakassa … tiracchānagatapaṇḍakassa … manussapurisassa … amanussapurisassa … tiracchānagatapurisassa dve magge methunaṁ dhammaṁ paṭisevantassa āpatti pārājikassa—vaccamagge, mukhe.
He commits an offense entailing expulsion if he has sexual intercourse with a human female through three orifices: the anus, the vagina, or the mouth. … with a female spirit … He commits an offense entailing expulsion if he has sexual intercourse with a female animal through three orifices: the anus, the vagina, or the mouth. … with a human gynandromorph … with a gynandromorph spirit … He commits an offense entailing expulsion if he has sexual intercourse with a gynandromorph animal through three orifices: the anus, the vagina, or the mouth. He commits an offense entailing expulsion if he has sexual intercourse with a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> through two orifices: the anus or the mouth. … with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal … with a human male … with a male spirit … He commits an offense entailing expulsion if he has sexual intercourse with a male animal through two orifices: the anus or the mouth.
Exposition part 2
Voluntary sexual intercourse
Đối với người nữ là người, người thực hành pháp dâm dục trong ba đường bị phạm tội pārājika: trong đường đại tiện, trong đường tiểu tiện, trong miệng. Đối với người nữ không phải là người ... cho đến ... đối với người nữ thuộc loài bàng sanh, người thực hành pháp dâm dục trong ba đường bị phạm tội pārājika: trong đường đại tiện, trong đường tiểu tiện, trong miệng. Đối với người lưỡng tính là người ... người lưỡng tính không phải là người ... người lưỡng tính thuộc loài bàng sanh, người thực hành pháp dâm dục trong ba đường bị phạm tội pārājika: trong đường đại tiện, trong đường tiểu tiện, trong miệng. Đối với người á nam á nữ là người, người thực hành pháp dâm dục trong hai đường bị phạm tội pārājika: trong đường đại tiện, trong miệng. Đối với người á nam á nữ không phải là người ... người á nam á nữ thuộc loài bàng sanh ... người nam là người ... người nam không phải là người ... người nam thuộc loài bàng sanh, người thực hành pháp dâm dục trong hai đường bị phạm tội pārājika: trong đường đại tiện, trong miệng.
Bhikkhussa sevanacittaṁ upaṭṭhite manussitthiyā vaccamaggaṁ aṅgajātaṁ pavesentassa āpatti pārājikassa. Bhikkhussa sevanacittaṁ upaṭṭhite manussitthiyā passāvamaggaṁ … mukhaṁ aṅgajātaṁ pavesentassa āpatti pārājikassa. Bhikkhussa sevanacittaṁ upaṭṭhite amanussitthiyā … tiracchānagatitthiyā … manussubhatobyañjanakassa … amanussubhatobyañjanakassa … tiracchānagatubhatobyañjanakassa … vaccamaggaṁ passāvamaggaṁ mukhaṁ aṅgajātaṁ pavesentassa āpatti pārājikassa. Bhikkhussa sevanacittaṁ upaṭṭhite manussapaṇḍakassa vaccamaggaṁ mukhaṁ aṅgajātaṁ pavesentassa āpatti pārājikassa. Bhikkhussa sevanacittaṁ upaṭṭhite amanussapaṇḍakassa … tiracchānagatapaṇḍakassa … manussapurisassa … amanussapurisassa … tiracchānagatapurisassa vaccamaggaṁ mukhaṁ aṅgajātaṁ pavesentassa āpatti pārājikassa.
If a monk has the intention of sexual relations and he makes his penis enter the anus of a human female … the vagina of a human female … the mouth of a human female, he commits an offense entailing expulsion. If a monk has the intention of sexual relations and he makes his penis enter the anus of a female spirit … the anus of a female animal … the anus of a human gynandromorph … the anus of a gynandromorph spirit … the anus of a gynandromorph animal … the vagina of a gynandromorph animal … the mouth of a gynandromorph animal, he commits an offense entailing expulsion. If a monk has the intention of sexual relations and he makes his penis enter the anus of a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> … the anus of a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … the anus of a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal … the anus of a human male … the anus of a male spirit … the anus of a male animal … the mouth of a male animal, he commits an offense entailing expulsion.
Forced sexual intercourse: bringing the partner to the monk
57. Khi tâm muốn hành dâm của vị tỳ khưu đã khởi lên, vị ấy đưa nam căn vào đại tiện đạo của người nữ nhân thì phạm tội pārājika. Khi tâm muốn hành dâm của vị tỳ khưu đã khởi lên, vị ấy đưa nam căn vào tiểu tiện đạo ... miệng của người nữ nhân thì phạm tội pārājika. Khi tâm muốn hành dâm của vị tỳ khưu đã khởi lên, vị ấy đưa nam căn vào đại tiện đạo, tiểu tiện đạo, miệng của phi nhân nữ ... súc sanh cái ... người lưỡng tính ... phi nhân lưỡng tính ... súc sanh lưỡng tính thì phạm tội pārājika. Khi tâm muốn hành dâm của vị tỳ khưu đã khởi lên, vị ấy đưa nam căn vào đại tiện đạo, miệng của người bán nam bán nữ thì phạm tội pārājika. Khi tâm muốn hành dâm của vị tỳ khưu đã khởi lên, vị ấy đưa nam căn vào đại tiện đạo, miệng của phi nhân bán nam bán nữ ... súc sanh bán nam bán nữ ... người nam nhân ... phi nhân nam ... súc sanh đực thì phạm tội pārājika.
Bhikkhupaccatthikā manussitthiṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena aṅgajātaṁ abhinisīdenti.
Enemy monks bring a human female to a monk and make her sit down so that his penis enters her anus.
58. Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng đại tiện đạo (của người nữ) làm cho ngồi đè lên nam căn (của vị tỳ khưu). Nếu vị ấy thích thú trong lúc đang đưa vào, thích thú trong lúc đã vào trong, thích thú trong lúc đang yên vị, thích thú trong lúc đang rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng đại tiện đạo làm cho ngồi đè lên nam căn. Nếu vị ấy không thích thú trong lúc đang đưa vào, nhưng thích thú trong lúc đã vào trong, thích thú trong lúc đang yên vị, thích thú trong lúc đang rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng đại tiện đạo làm cho ngồi đè lên nam căn. Nếu vị ấy không thích thú trong lúc đang đưa vào, không thích thú trong lúc đã vào trong, nhưng thích thú trong lúc đang yên vị, thích thú trong lúc đang rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng đại tiện đạo làm cho ngồi đè lên nam căn. Nếu vị ấy không thích thú trong lúc đang đưa vào, không thích thú trong lúc đã vào trong, không thích thú trong lúc đang yên vị, nhưng thích thú trong lúc đang rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng đại tiện đạo làm cho ngồi đè lên nam căn. Nếu vị ấy không thích thú trong lúc đang đưa vào, không thích thú trong lúc đã vào trong, không thích thú trong lúc đang yên vị, không thích thú trong lúc đang rút ra thì không phạm tội.
Các tỳ khưu đối nghịch dẫn người nữ nhân đến gần vị tỳ khưu rồi dùng tiểu tiện đạo ... miệng làm cho ngồi đè lên nam căn. Nếu vị ấy thích thú trong lúc đang đưa vào, thích thú trong lúc đã vào trong, thích thú trong lúc đang yên vị, thích thú trong lúc đang rút ra thì phạm tội pārājika ... v.v. ... nếu không thích thú thì không phạm tội.
60. Các tỳ khưu đối nghịch dắt người nam nhân ... người nam phi nhân ... người nam thuộc loài bàng sanh đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục (của vị tỳ khưu) bằng đường đại tiện ... bằng miệng. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội pārājika. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā manussitthiṁ bhikkhussa santike ānetvā passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a human female to a monk and make her sit down so that his penis enters her vagina … her mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent to the entry, nor to having entered, nor to the remaining, nor to the taking out, there is no offense.
61. Các tỳ khưu đối nghịch dắt người nữ nhân đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng đường tiểu tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người nữ có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người nữ không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người nữ có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người nữ không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội pārājika. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā manussitthiṁ jāgarantiṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a human female who is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one who is dead and mostly decomposed to a monk and make her sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Các tỳ khưu đối nghịch (dắt) người nữ nhân đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang dể duôi ... đã chết chưa bị ăn ... đã chết phần lớn chưa bị ăn ... (đến chỗ của vị tỳ khưu rồi làm như trên) thì phạm tội pārājika. (Họ dắt) người (nữ nhân) đã chết phần lớn đã bị ăn đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng đường tiểu tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người nữ có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người nữ không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người nữ có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người nữ không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội thullaccaya. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā amanussitthiṁ … tiracchānagatitthiṁ … manussubhatobyañjanakaṁ … amanussubhatobyañjanakaṁ … tiracchānagatubhatobyañjanakaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā tiracchānagatubhatobyañjanakaṁ jāgarantaṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā manussapaṇḍakaṁ … amanussapaṇḍakaṁ … tiracchānagatapaṇḍakaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā tiracchānagatapaṇḍakaṁ jāgarantaṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a female spirit … a female animal … a human gynandromorph … a gynandromorph spirit … a gynandromorph animal to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its vagina … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a gynandromorph animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one that is dead and mostly decomposed to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its vagina … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one that is dead and mostly decomposed to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Các tỳ khưu đối nghịch dắt người nữ phi nhân ... người nữ thuộc loài bàng sanh ... người lưỡng tính ... người lưỡng tính phi nhân ... người lưỡng tính thuộc loài bàng sanh đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng đường tiểu tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người (ấy) có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội pārājika. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā manussapurisaṁ … amanussapurisaṁ … tiracchānagatapurisaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā tiracchānagatapurisaṁ jāgarantaṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā manussitthiṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti santhatāya asanthatassa, asanthatāya santhatassa, santhatāya santhatassa, asanthatāya asanthatassa. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā manussitthiṁ jāgarantiṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ …
Enemy monks bring a human male … a male spirit … a male animal to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a male animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one that is dead and mostly decomposed to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Forced sexual intercourse with cover: bringing the partner to the monk
Enemy monks bring a human female to a monk and make her sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth, the female covered and the monk uncovered; the female uncovered and the monk covered; the female covered and the monk covered; the female uncovered and the monk uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a human female who is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed …
Các tỳ khưu đối nghịch (dắt) người lưỡng tính thuộc loài bàng sanh đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang dể duôi ... đã chết chưa bị ăn ... đã chết phần lớn chưa bị ăn ... (đến chỗ của vị tỳ khưu rồi làm như trên) thì phạm tội pārājika. (Họ dắt) người (lưỡng tính thuộc loài bàng sanh) đã chết phần lớn đã bị ăn đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng đường tiểu tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người (ấy) có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội thullaccaya. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nữ nhân loại đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang đãng trí ... đã chết chưa bị (loài vật) ăn ... đã chết phần lớn chưa bị (loài vật) ăn ... cho đến ... phạm tội pārājika. (Họ) dẫn (vị tỳ khưu) đến gần (thi thể) đã chết phần lớn đã bị (loài vật) ăn, rồi họ ấn dồn dương vật vào đại tiện đạo ... tiểu tiện đạo ... miệng. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội thullaccaya ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā amanussitthiṁ … tiracchānagatitthiṁ … manussubhatobyañjanakaṁ … amanussubhatobyañjanakaṁ … tiracchānagatubhatobyañjanakaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena …
Enemy monks bring a female spirit … a female animal … a human gynandromorph … a gynandromorph spirit … a gynandromorph animal to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its vagina …
64. Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nữ nhân loại, rồi họ ấn dồn dương vật của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào đại tiện đạo ... tiểu tiện đạo ... miệng của (người nữ) không có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) không có vật che phủ. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội pārājika ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nữ phi nhân ... người nữ bàng sanh ... người lưỡng tính nhân loại ... người lưỡng tính phi nhân ... người lưỡng tính bàng sanh ... người bán nam bán nữ nhân loại ... người bán nam bán nữ phi nhân ... người bán nam bán nữ bàng sanh ... người nam nhân loại ... người nam phi nhân ... người nam bàng sanh, rồi họ ấn dồn dương vật vào đại tiện đạo ... miệng. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội pārājika ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā tiracchānagatubhatobyañjanakaṁ jāgarantaṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … passāvamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti, santhatassa asanthatassa, asanthatassa santhatassa, santhatassa santhatassa, asanthatassa asanthatassa. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā manussapaṇḍakaṁ … amanussapaṇḍakaṁ … tiracchānagatapaṇḍakaṁ … manussapurisaṁ … amanussapurisaṁ … tiracchānagatapurisaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti santhatassa asanthatassa, asanthatassa santhatassa, santhatassa santhatassa, asanthatassa asanthatassa. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a gynandromorph animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one that is dead and mostly decomposed to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its vagina … its mouth, the animal covered and the monk uncovered; the animal uncovered and the monk covered; the animal covered and the monk covered; the animal uncovered and the monk uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal … a human male … a male spirit … a male animal to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth, the animal covered and the monk uncovered; the animal uncovered and the monk covered; the animal covered and the monk covered; the animal uncovered and the monk uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
62. Các tỳ khưu đối nghịch dắt người bán nam ... người bán nam phi nhân ... người bán nam thuộc loài bàng sanh ... người nam nhân ... người nam phi nhân ... người nam thuộc loài bàng sanh đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người (ấy) có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội pārājika. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā tiracchānagatapurisaṁ jāgarantaṁ … suttaṁ … mattaṁ … ummattaṁ … pamattaṁ … mataṁ akkhāyitaṁ … mataṁ yebhuyyena akkhāyitaṁ …pe… āpatti pārājikassa. Mataṁ yebhuyyena khāyitaṁ bhikkhussa santike ānetvā vaccamaggena … mukhena aṅgajātaṁ abhinisīdenti, santhatassa asanthatassa, asanthatassa santhatassa, santhatassa santhatassa, asanthatassa asanthatassa.
Enemy monks bring a male animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring one that is dead and mostly decomposed to a monk and make it sit down so that his penis enters its anus … its mouth, the animal covered and the monk uncovered; the animal uncovered and the monk covered; the animal covered and the monk covered; the animal uncovered and the monk uncovered.
Các tỳ khưu đối nghịch (dắt) người nam thuộc loài bàng sanh đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang dể duôi ... đã chết chưa bị ăn ... đã chết phần lớn chưa bị ăn ... (đến chỗ của vị tỳ khưu rồi làm như trên) thì phạm tội pārājika. (Họ dắt) người (nam thuộc loài bàng sanh) đã chết phần lớn đã bị ăn đến chỗ của vị tỳ khưu rồi (bắt) ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục bằng đường đại tiện ... bằng miệng (trong các trường hợp sau): của người (ấy) có quấn vải với (bộ phận sinh dục) của vị tỳ khưu không quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) có quấn vải với của vị tỳ khưu có quấn vải, của người (ấy) không quấn vải với của vị tỳ khưu không quấn vải. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội thullaccaya. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ manussitthiyā santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … passāvamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ manussitthiyā jāgarantiyā … suttāya … mattāya … ummattāya … pamattāya … matāya akkhāyitāya … matāya yebhuyyena akkhāyitāya …pe… āpatti pārājikassa. Matāya yebhuyyena khāyitāya santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … passāvamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ amanussitthiyā … tiracchānagatitthiyā … manussubhatobyañjanakassa … amanussubhatobyañjanakassa … tiracchānagatubhatobyañjanakassa … manussapaṇḍakassa … amanussapaṇḍakassa … tiracchānagatapaṇḍakassa … manussapurisassa … amanussapurisassa … tiracchānagatapurisassa santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ tiracchānagatapurisassa jāgarantassa … suttassa … mattassa … ummattassa … pamattassa … matassa akkhāyitassa … matassa yebhuyyena akkhāyitassa …pe… āpatti pārājikassa. Matassa yebhuyyena khāyitassa santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Forced sexual intercourse: bringing the monk to the partner
Enemy monks bring a monk to a human female and make him sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a monk to a human female who is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring a monk to one who is dead and mostly decomposed and make him sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a monk to a female spirit … a female animal … a human gynandromorph … a gynandromorph spirit … a gynandromorph animal … a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal … a human male … a male spirit … a male animal and make him sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a monk to a male animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring a monk to one that is dead and mostly decomposed and make him sit down so that his penis enters its anus … its mouth. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Forced sexual intercourse with cover: bringing the monk to the partner
63. Các tỳ khưu đối nghịch dắt vị tỳ khưu đến chỗ của người nữ nhân rồi (bắt) ngồi đè lên trên đường đại tiện ... đường tiểu tiện ... miệng bằng bộ phận sinh dục. Nếu vị ấy khởi tâm ưa thích trong khi đưa vào, ưa thích trong khi đã vào, ưa thích trong khi đang nằm yên, ưa thích trong khi rút ra thì phạm tội pārājika. ... Nếu không ưa thích thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ manussitthiyā santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … passāvamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti santhatassa asanthatāya, asanthatassa santhatāya, santhatassa santhatāya, asanthatassa asanthatāya. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ manussitthiyā jāgarantiyā … suttāya … mattāya … ummattāya … pamattāya … matāya akkhāyitāya … matāya yebhuyyena akkhāyitāya …pe… āpatti pārājikassa. Matāya yebhuyyena khāyitāya santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … passāvamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti santhatassa asanthatāya, asanthatassa santhatāya, santhatassa santhatāya, asanthatassa asanthatāya. So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a monk to a human female and make him sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth, the monk covered and the female uncovered; the monk uncovered and the female covered; the monk covered and the female covered; the monk uncovered and the female uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Enemy monks bring a monk to a human female who is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring a monk to a human female who is dead and mostly decomposed and make him sit down so that his penis enters her anus … her vagina … her mouth, the monk covered and the female uncovered; the monk uncovered and the female covered; the monk covered and the female covered; the monk uncovered and the female uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nữ nhân loại đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang đãng trí ... đã chết chưa bị (loài vật) ăn ... đã chết phần lớn chưa bị (loài vật) ăn ... cho đến ... phạm tội pārājika. (Họ) dẫn (vị tỳ khưu) đến gần (thi thể) đã chết phần lớn đã bị (loài vật) ăn, rồi họ ấn dồn dương vật của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào đại tiện đạo ... tiểu tiện đạo ... miệng của (người nữ) không có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nữ) không có vật che phủ. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội thullaccaya ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ amanussitthiyā … tiracchānagatitthiyā … manussubhatobyañjanakassa … amanussubhatobyañjanakassa … tiracchānagatubhatobyañjanakassa … manussapaṇḍakassa … amanussapaṇḍakassa … tiracchānagatapaṇḍakassa … manussapurisassa … amanussapurisassa … tiracchānagatapurisassa santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti santhatassa asanthatassa, asanthatassa santhatassa, santhatassa santhatassa, asanthatassa asanthatassa, So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti pārājikassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a monk to a female spirit … a female animal … a human gynandromorph … a gynandromorph spirit … a gynandromorph animal … a human <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> spirit … a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> animal … a human male … a male spirit … a male animal and make him sit down so that his penis enters its anus … its mouth, the monk covered and the animal uncovered; the monk uncovered and the animal covered; the monk covered and the animal covered; the monk uncovered and the animal uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits an offense entailing expulsion. … If he does not consent … there is no offense.
Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nữ phi nhân ... người nữ bàng sanh ... người lưỡng tính nhân loại ... người lưỡng tính phi nhân ... người lưỡng tính bàng sanh ... người bán nam bán nữ nhân loại ... người bán nam bán nữ phi nhân ... người bán nam bán nữ bàng sanh ... người nam nhân loại ... người nam phi nhân ... người nam bàng sanh, rồi họ ấn dồn dương vật của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào đại tiện đạo ... miệng của (đối tượng) không có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (đối tượng) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào (đường đạo) của (đối tượng) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (đối tượng) không có vật che phủ. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội pārājika ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Bhikkhupaccatthikā bhikkhuṁ tiracchānagatapurisassa jāgarantassa … suttassa … mattassa … ummattassa … pamattassa … matassa akkhāyitassa … matassa yebhuyyena akkhāyitassa …pe… āpatti pārājikassa. Matassa yebhuyyena khāyitassa santike ānetvā aṅgajātena vaccamaggaṁ … mukhaṁ abhinisīdenti santhatassa asanthatassa, asanthatassa santhatassa, santhatassa santhatassa, asanthatassa asanthatassa, So ce pavesanaṁ sādiyati, paviṭṭhaṁ sādiyati, ṭhitaṁ sādiyati, uddharaṇaṁ sādiyati, āpatti thullaccayassa …pe… na sādiyati, anāpatti.
Enemy monks bring a monk to a male animal that is awake … asleep … intoxicated … insane … heedless … dead but undecomposed … dead and mostly undecomposed … he commits an offense entailing expulsion. They bring a monk to one that is dead and mostly decomposed and make him sit down so that his penis enters its anus … its mouth, the monk covered and the animal uncovered; the monk uncovered and the animal covered; the monk covered and the animal covered; the monk uncovered and the animal uncovered. If he consents to the entry, and he consents to having entered, and he consents to the remaining, and he consents to the taking out, he commits a serious offense. … If he does not consent … there is no offense.
65. Các vị tỳ khưu đối nghịch dẫn vị tỳ khưu đến gần người nam bàng sanh đang thức ... đang ngủ ... đang say ... đang điên ... đang đãng trí ... đã chết chưa bị (loài vật) ăn ... đã chết phần lớn chưa bị (loài vật) ăn ... cho đến ... phạm tội pārājika. (Họ) dẫn (vị tỳ khưu) đến gần (thi thể) đã chết phần lớn đã bị (loài vật) ăn, rồi họ ấn dồn dương vật của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào đại tiện đạo ... miệng của (người nam bàng sanh) không có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nam bàng sanh) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nam bàng sanh) có vật che phủ, của (vị tỳ khưu) không có vật che phủ vào (đường đạo) của (người nam bàng sanh) không có vật che phủ. Nếu vị ấy thích thú lúc đưa vào, thích thú lúc đã vào, thích thú lúc đang nằm yên, thích thú lúc rút ra, thì phạm tội thullaccaya ... cho đến ... nếu không thích thú, thì vô tội.
Yathā bhikkhupaccatthikā vitthāritā, evaṁ vitthāretabbā.
As “enemy monks” has been explained in detail, so should the following categories be explained:
Giống như (trường hợp) các vị tỳ khưu đối nghịch đã được trình bày chi tiết, cũng vậy, (các trường hợp sau) nên được trình bày chi tiết.
Rājapaccatthikā … corapaccatthikā … dhuttapaccatthikā … uppalagandhapaccatthikā. Saṅkhittaṁ.
Enemy kings … enemy bandits … enemy scoundrels … “water-lily scent” enemies. The section in brief is finished.
Permutations part 2
(Các trường hợp về) các vị vua đối nghịch ... các tên trộm cướp đối nghịch ... các kẻ du đãng đối nghịch ... các kẻ cướp Uppalāgandha đối nghịch. (Phần này được nói) tóm tắt.
Maggena maggaṁ paveseti, āpatti pārājikassa. Maggena amaggaṁ paveseti, āpatti pārājikassa. Amaggena maggaṁ paveseti, āpatti pārājikassa. Amaggena amaggaṁ paveseti, āpatti thullaccayassa.
If he makes a private part enter a private part, there is an offense entailing expulsion. If he makes the mouth enter a private part, there is an offense entailing expulsion. If he makes a private part enter the mouth, there is an offense entailing expulsion. If he makes the mouth enter the mouth, there is a serious offense.
66. (Dùng) đường đạo đưa vào đường đạo, phạm tội pārājika. (Dùng) đường đạo đưa vào không phải đường đạo, phạm tội pārājika. (Dùng) không phải đường đạo đưa vào đường đạo, phạm tội pārājika. (Dùng) không phải đường đạo đưa vào không phải đường đạo, phạm tội thullaccaya.
Bhikkhu suttabhikkhumhi vippaṭipajjati; paṭibuddho sādiyati, ubho nāsetabbā. Paṭibuddho na sādiyati, dūsako nāsetabbo. Bhikkhu suttasāmaṇeramhi vippaṭipajjati; paṭibuddho sādiyati, ubho nāsetabbā. Paṭibuddho na sādiyati, dūsako nāsetabbo. Sāmaṇero suttabhikkhumhi vippaṭipajjati; paṭibuddho sādiyati, ubho nāsetabbā. Paṭibuddho na sādiyati, dūsako nāsetabbo. Sāmaṇero suttasāmaṇeramhi vippaṭipajjati; paṭibuddho sādiyati, ubho nāsetabbā. Paṭibuddho na sādiyati, dūsako nāsetabbo.
Anāpatti—ajānantassa,
A monk rapes a sleeping monk: if he wakes up and consents, both should be expelled; if he wakes up but does not consent, the rapist should be expelled. A monk rapes a sleeping novice: if he wakes up and consents, both should be expelled; if he wakes up but does not consent, the rapist should be expelled. A novice rapes a sleeping monk: if he wakes up and consents, both should be expelled; if he wakes up but does not consent, the rapist should be expelled. A novice rapes a sleeping novice: if he wakes up and consents, both should be expelled; if he wakes up but does not consent, the rapist should be expelled.
Non-offenses
There is no offense: if he does not know;
Vị tỳ khưu có hành vi sai trái với vị tỳ khưu đang ngủ; (sau khi) thức dậy mà vị kia chấp thuận thì cả hai nên bị trục xuất. (Sau khi) thức dậy mà vị kia không chấp thuận thì kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị tỳ khưu có hành vi sai trái với vị sa di đang ngủ; (sau khi) thức dậy mà vị kia chấp thuận thì cả hai nên bị trục xuất. (Sau khi) thức dậy mà vị kia không chấp thuận thì kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị sa di có hành vi sai trái với vị tỳ khưu đang ngủ; (sau khi) thức dậy mà vị kia chấp thuận thì cả hai nên bị trục xuất. (Sau khi) thức dậy mà vị kia không chấp thuận thì kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị sa di có hành vi sai trái với vị sa di đang ngủ; (sau khi) thức dậy mà vị kia chấp thuận thì cả hai nên bị trục xuất. (Sau khi) thức dậy mà vị kia không chấp thuận thì kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
Không có tội đối với người không biết, người không chấp thuận, người bị điên, người có tâm trí rối loạn, người bị cảm thọ đau đớn hành hạ, và người vi phạm lần đầu.
Santhatabhāṇavāro niṭṭhito.
The section for recitation on covering is finished.
Phẩm Tụng về Tấm Trải đã kết thúc.
4. Vinītavatthuuddānagāthā
Summary verses of case studies
Kệ tóm tắt các trường hợp đã được xét xử
Makkaṭī vajjiputtā ca, gihī naggo ca titthiyā; Dārikuppalavaṇṇā ca, byañjanehipare duve.
“The female monkey, and the Vajjians, Householder, and a naked one, monastics of other religions; The girl, and Uppalavaṇṇā, Two others with characteristics.
Con khỉ cái, và các vị Vajjiputta; người tại gia, người lõa thể, và các người ngoại đạo; cô bé gái, và ni Uppalavaṇṇā; và hai trường hợp khác về sự chuyển giới.
Mātā dhītā bhaginī ca, jāyā ca mudu lambinā; Dve vaṇā lepacittañca, dārudhītalikāya ca.
Mother, daughter, and sister, And wife, supple, with long; Two on wounds, and a picture, And a wooden doll.
Mẹ, con gái, và chị em gái; vợ, người lưng mềm, người có dương vật dài; hai vết thương, và hình vẽ, và con búp bê bằng gỗ.
Sundarena saha pañca, pañca sivathikaṭṭhikā; Nāgī yakkhī ca petī ca, paṇḍakopahato chupe.
Five with Sundara, Five about charnel grounds, bones; A female dragon, and a female spirit, and a female ghost, A <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, impaired, should touch.
Năm trường hợp cùng với Sundara, năm trường hợp về tử thi và bộ xương; nāgī, yakkhī, và petī; paṇḍaka, người bị tổn thương, và người chạm vào.
Bhaddiye arahaṁ sutto, sāvatthiyā caturo pare; Vesāliyā tayo mālā, supine bhārukacchako.
The sleeping Perfected One in Bhaddiya, Four others in Sāvatthī; Three in Vesālī, garlands, The one from Bhārukaccha in his dream.
Vị A-la-hán đang ngủ ở Bhaddiya, bốn vị khác ở Sāvatthī; ba vị ở Vesālī, vòng hoa, và vị ở Bhārukaccha trong giấc mơ.
Supabbā saddhā bhikkhunī, Sikkhamānā sāmaṇerī ca; Vesiyā paṇḍako gihī, Aññamaññaṁ vuḍḍhapabbajito migoti.
Supabbā, Saddhā, a nun, A trainee nun, and a novice nun; A sex worker, a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, a female householder, Each other, gone forth in old age, a deer.”
Supabbā, Saddhā, vị tỳ khưu ni, vị học nữ, và vị sa di ni; gái điếm, paṇḍaka, người tại gia, lẫn nhau, người xuất gia lúc lớn tuổi, và con nai.
5. Vinītavatthu
Case studies
Các trường hợp đã được xét xử
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu makkaṭiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ, kacci nu kho ahaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse with a female monkey. He became anxious, thinking, “The Buddha has laid down a training rule. Could it be that I’ve committed an offense entailing expulsion?” He told the Buddha. “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
67. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã thực hành việc dâm dục với một con khỉ cái. Vị ấy đã có sự hối hận: “Điều học đã được đức Thế Tôn chế định. Không biết ta có phạm tội pārājika không?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena sambahulā vesālikā vajjiputtakā bhikkhū sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu. Tesaṁ kukkuccaṁ ahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ, kacci nu kho mayaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpannā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Āpattiṁ tumhe, bhikkhave, āpannā pārājikan”ti.
At one time a number of Vajjian monks from Vesālī had sexual intercourse without first renouncing the training and revealing their weakness. They became anxious, thinking, “The Buddha has laid down a training rule. Could it be that we’ve committed an offense entailing expulsion?” They told the Buddha. “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, trong khi chưa từ bỏ điều học và chưa tuyên bố sự yếu kém của mình, đã thực hành việc dâm dục. Các vị ấy đã có sự hối hận: “Điều học đã được đức Thế Tôn chế định. Không biết chúng ta có phạm tội pārājika không?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, các ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—gihiliṅgena methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ, kacci nu kho ahaṁ pārājikaṁ āpattiṁ āpanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse while dressed like a householder, thinking he would avoid an offense. He became anxious, thinking, “The Buddha has laid down a training rule. Could it be that I’ve committed an offense entailing expulsion?” He told the Buddha. “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu, với ý nghĩ rằng: ‘Làm như thế này thì ta sẽ không có tội,’ đã thực hành việc dâm dục trong tướng mạo của người tại gia. Vị ấy đã có sự hối hận: “Điều học đã được đức Thế Tôn chế định. Không biết ta có phạm tội pārājika không?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—naggo hutvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse while naked, thinking he would avoid an offense. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu, với ý nghĩ rằng: ‘Làm như thế này thì ta sẽ không có tội,’ đã thực hành việc dâm dục trong tình trạng lõa thể. Vị ấy đã có sự hối hận ... đến ... (Ngài phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—kusacīraṁ nivāsetvā … vākacīraṁ nivāsetvā … phalakacīraṁ nivāsetvā … kesakambalaṁ nivāsetvā … vālakambalaṁ nivāsetvā … ulūkapakkhikaṁ nivāsetvā … ajinakkhipaṁ nivāsetvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse while dressed in a grass sarong … while dressed in a bark sarong … while dressed in a sarong made of bits of wood … while dressed in a sarong made of human hair … while dressed in a sarong made of horse-hair … while dressed in a sarong of owls’ wings … while dressed in a sarong of antelope hide, thinking he would avoid an offense. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu, với ý nghĩ rằng: ‘Làm như thế này thì ta sẽ không có tội,’ sau khi đã mặc y bằng cỏ kusa ... sau khi đã mặc y bằng vỏ cây ... sau khi đã mặc y bằng vỏ cây bào mỏng ... sau khi đã mặc y bằng tóc người ... sau khi đã mặc y bằng lông đuôi ngựa ... sau khi đã mặc y bằng lông cánh cú ... sau khi đã mặc y bằng da của con sơn dương đen, đã thực hành việc dâm dục. Vị ấy đã có sự hối hận ... đến ... (Ngài phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro piṇḍacāriko bhikkhu pīṭhake nipannaṁ dārikaṁ passitvā sāratto aṅguṭṭhaṁ aṅgajātaṁ pavesesi. Sā kālamakāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti saṅghādisesassā”ti.
At one time a monk who was an alms-collector saw a little girl lying on a bench. Being lustful, he inserted his thumb into her vagina. She died. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense entailing suspension.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đi khất thực, sau khi nhìn thấy một bé gái đang nằm trên ghế dài, do bị tham ái chi phối, đã đưa ngón chân cái vào bộ phận sinh dục của bé gái ấy. Cô bé ấy đã mệnh chung. Vị ấy đã có sự hối hận ... đến ... (Ngài phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có tội saṅghādisesa.”
Tena kho pana samayena aññataro māṇavako uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā paṭibaddhacitto hoti. Atha kho so māṇavako uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā gāmaṁ piṇḍāya paviṭṭhāya kuṭikaṁ pavisitvā nilīno acchi. Uppalavaṇṇā bhikkhunī pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā pāde pakkhāletvā kuṭikaṁ pavisitvā mañcake nisīdi. Atha kho so māṇavako uppalavaṇṇaṁ bhikkhuniṁ uggahetvā dūsesi. Uppalavaṇṇā bhikkhunī bhikkhunīnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anāpatti, bhikkhave, asādiyantiyā”ti.
At one time a young brahmin had fallen in love with the nun Uppalavaṇṇā. When Uppalavaṇṇā had gone to the village for alms, he entered her hut and hid himself. When she had eaten her meal and returned from almsround, Uppalavaṇṇā washed her feet, entered her hut, and sat down on the bed. Then that young brahmin grabbed hold of her and raped her. She told the nuns what had happened. The nuns told the monks, who in turn told the Buddha. “There’s no offense for one who doesn’t consent.”
68. Vào lúc bấy giờ, có một thanh niên có tâm quyến luyến tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā. Khi ấy, trong lúc tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã đi vào làng để khất thực, thanh niên ấy đã đi vào cốc và ẩn nấp ở đấy. Sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã rửa chân, đi vào cốc, rồi ngồi xuống giường nhỏ. Khi ấy, thanh niên ấy đã khống chế và hãm hiếp tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā. Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã báo sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã báo sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không có tội đối với người nữ không chấp thuận.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno itthiliṅgaṁ pātubhūtaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, taññeva upajjhaṁ tameva upasampadaṁ tāniyeva vassāni bhikkhunīhi saṅgamituṁ. Yā āpattiyo bhikkhūnaṁ bhikkhunīhi sādhāraṇā tā āpattiyo bhikkhunīnaṁ santike vuṭṭhātuṁ. Yā āpattiyo bhikkhūnaṁ bhikkhunīhi asādhāraṇā tāhi āpattīhi anāpattī”ti.
Tena kho pana samayena aññatarissā bhikkhuniyā purisaliṅgaṁ pātubhūtaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time female characteristics appeared on a monk. They told the Buddha.
“Monks, I allow that discipleship, that ordination, those years as a monk, to be transferred to the nuns. The monks’ offenses that are in common with the nuns are to be cleared with the nuns. For the monks’ offenses that are not in common with the nuns, there’s no offense.”
At one time male characteristics appeared on a nun. They told the Buddha.
69. Vào lúc bấy giờ, nữ tính đã xuất hiện ở một vị tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị thầy tế độ vẫn là vị ấy, lễ cụ túc vẫn là lễ ấy, số năm hạ vẫn là những năm ấy, và được phép sống chung với các tỳ khưu ni. Những tội nào của các tỳ khưu mà có chung với các tỳ khưu ni, Ta cho phép được xuất tội đối với những tội ấy ở trước các tỳ khưu ni. Những tội nào của các tỳ khưu mà không có chung với các tỳ khưu ni, vị ấy không có tội đối với những tội ấy.”
“Anujānāmi, bhikkhave, taññeva upajjhaṁ tameva upasampadaṁ tāniyeva vassāni bhikkhūhi saṅgamituṁ. Yā āpattiyo bhikkhunīnaṁ bhikkhūhi sādhāraṇā tā āpattiyo bhikkhūnaṁ santike vuṭṭhātuṁ. Yā āpattiyo bhikkhunīnaṁ bhikkhūhi asādhāraṇā tāhi āpattīhi anāpattī”ti.
“Monks, I allow that discipleship, that ordination, those years as a nun, to be transferred to the monks. The nuns’ offenses that are in common with the monks are to be cleared with the monks. For the nuns’ offenses that are not in common with the monks, there’s no offense.”
Vào lúc bấy giờ, nam tính đã xuất hiện ở một vị tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị thầy tế độ vẫn là vị ấy, lễ cụ túc vẫn là lễ ấy, số năm hạ vẫn là những năm ấy, và được phép sống chung với các tỳ khưu. Những tội nào của các tỳ khưu ni mà có chung với các tỳ khưu, Ta cho phép được xuất tội đối với những tội ấy ở trước các tỳ khưu. Những tội nào của các tỳ khưu ni mà không có chung với các tỳ khưu, vị ấy không có tội đối với những tội ấy.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—mātuyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … dhītuyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … bhaginiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse with his mother … had sexual intercourse with his daughter … had sexual intercourse with his sister, thinking he would avoid an offense. … He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
70. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ nghĩ rằng: “Làm như vầy, ta sẽ không phạm tội,” rồi đã thực hành pháp dâm với mẹ của mình ... đã thực hành pháp dâm với con gái của mình ... đã thực hành pháp dâm với chị em gái của mình ... Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu purāṇadutiyikāya methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk had sexual intercourse with his ex-wife. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đã thực hành pháp dâm với người vợ cũ. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu mudupiṭṭhiko hoti. So anabhiratiyā pīḷito attano aṅgajātaṁ mukhena aggahesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time there was a monk with a supple back who was plagued by lust. He inserted his penis into his own mouth. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
71. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ có thân thể mềm dẻo. Do bị sự không hoan hỷ bức bách, vị ấy đã dùng miệng ngậm lấy bộ phận sinh dục của mình. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu lambī hoti. So anabhiratiyā pīḷito attano aṅgajātaṁ attano vaccamaggaṁ pavesesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time there was a monk with a long penis who was plagued by lust. He inserted his penis into his own anus. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ có bộ phận sinh dục dài. Do bị sự không hoan hỷ bức bách, vị ấy đã đưa bộ phận sinh dục của mình vào hậu môn của mình. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu matasarīraṁ passi. Tasmiñca sarīre aṅgajātasāmantā vaṇo hoti. So—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—aṅgajāte aṅgajātaṁ pavesetvā vaṇena nīhari. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk saw a dead body with a wound next to the genitals. Thinking he would avoid an offense, he inserted his penis into the genitals and exited through the wound. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ nhìn thấy một tử thi. Trên tử thi ấy, có một vết thương ở gần bộ phận sinh dục. Vị ấy nghĩ rằng: “Làm như vầy, ta sẽ không phạm tội,” rồi đã đưa bộ phận sinh dục của mình vào bộ phận sinh dục (của tử thi) và rút ra qua vết thương. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu matasarīraṁ passi. Tasmiñca sarīre aṅgajātasāmantā vaṇo hoti. So—“evaṁ me anāpatti bhavissatī”ti—vaṇe aṅgajātaṁ pavesetvā aṅgajātena nīhari. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk saw a dead body with a wound next to the genitals. Thinking he would avoid an offense, he inserted his penis into the wound and exited through the genitals. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ nhìn thấy một tử thi. Trên tử thi ấy, có một vết thương ở gần bộ phận sinh dục. Vị ấy nghĩ rằng: “Làm như vầy, ta sẽ không phạm tội,” rồi đã đưa bộ phận sinh dục của mình vào vết thương và rút ra qua bộ phận sinh dục (của tử thi). Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāratto lepacittassa nimittaṁ aṅgajātena chupi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a lustful monk touched the genitals in a picture with his penis. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ do tham ái nên đã dùng bộ phận sinh dục của mình chạm vào bộ phận sinh dục của một hình vẽ. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāratto dārudhītalikāya nimittaṁ aṅgajātena chupi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a lustful monk touched the genitals of a wooden doll with his penis. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ do tham ái nên đã dùng bộ phận sinh dục của mình chạm vào bộ phận sinh dục của một con búp bê bằng gỗ. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena sundaro nāma bhikkhu rājagahā pabbajito rathikāya gacchati. Aññatarā itthī—“muhuttaṁ, bhante, āgamehi, vandissāmī”ti sā vandantī antaravāsakaṁ ukkhipitvā mukhena aṅgajātaṁ aggahesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “sādiyi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, sādiyin”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, asādiyantassā”ti.
At one time a monk called Sundara who had gone forth in Rājagaha was walking along a street. A woman said to him, “Please wait, sir, I’ll pay respect to you.” As she was paying respect, she held up his sarong and inserted his penis into her mouth. He became anxious … “Monk, did you consent?”
“I didn’t consent, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t consent.”
72. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên là Sundara, đã xuất gia từ thành Rājagaha, đang đi trên đường. Một người phụ nữ nọ nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy chờ một lát, con sẽ đảnh lễ,” rồi trong khi đang đảnh lễ, người phụ nữ ấy đã vén y nội lên và dùng miệng ngậm lấy bộ phận sinh dục. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn hỏi:) “Này tỳ khưu, ngươi có thích thú không?” – “Bạch đức Thế Tôn, con không thích thú.” – (Đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, người không thích thú thì không phạm tội.”
Tena kho pana samayena aññatarā itthī bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Ehi, bhante, ahaṁ vāyamissāmi, tvaṁ mā vāyami, evaṁ te anāpatti bhavissatī”ti. So bhikkhu tathā akāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a woman saw a monk and said, “Sir, come and have sexual intercourse.”
“It’s not allowable.”
“I’ll make the effort, not you. In this way there won’t be any offense for you.” The monk acted accordingly. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ nọ sau khi nhìn thấy một vị tỳ khưu đã nói lên lời này: “Bạch ngài, hãy đến đây, hãy thực hành pháp dâm.” – “Thôi đi, này chị, điều này không hợp lệ.” – “Bạch ngài, hãy đến đây, tôi sẽ cố gắng, ngài đừng cố gắng, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như vậy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññatarā itthī bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Ehi, bhante, tvaṁ vāyama, ahaṁ na vāyamissāmi, evaṁ te anāpatti bhavissatī”ti. So bhikkhu tathā akāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a woman saw a monk and said, “Sir, come and have sexual intercourse.”
“It’s not allowable.”
“You make the effort, not I. In this way there won’t be any offense for you.” The monk acted accordingly. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ nọ sau khi nhìn thấy một vị tỳ khưu đã nói lên lời này: “Bạch ngài, hãy đến đây, hãy thực hành pháp dâm.” – “Thôi đi, này chị, điều này không hợp lệ.” – “Bạch ngài, hãy đến đây, ngài hãy cố gắng, tôi sẽ không cố gắng, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như vậy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññatarā itthī bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Ehi, bhante, abbhantaraṁ ghaṭṭetvā bahi mocehi …pe… bahi ghaṭṭetvā abbhantaraṁ mocehi, evaṁ te anāpatti bhavissatī”ti. So bhikkhu tathā akāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a woman saw a monk and said, “Sir, come and have sexual intercourse.”
“It’s not allowable.”
“Rub inside but discharge outside. … Rub outside but discharge inside. In this way there won’t be any offense for you.” The monk acted accordingly. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ nọ sau khi nhìn thấy một vị tỳ khưu đã nói lên lời này: “Bạch ngài, hãy đến đây, hãy thực hành pháp dâm.” – “Thôi đi, này chị, điều này không hợp lệ.” – “Bạch ngài, hãy đến đây, hãy cọ xát ở bên trong rồi xuất tinh ở bên ngoài ... hãy cọ xát ở bên ngoài rồi xuất tinh ở bên trong, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.” Vị tỳ khưu ấy đã làm như vậy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sivathikaṁ gantvā akkhāyitaṁ sarīraṁ passitvā tasmiṁ methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk went to a charnel ground where he saw an undecomposed corpse. He had sexual intercourse with it. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
73. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đi đến nghĩa địa, sau khi nhìn thấy một tử thi chưa bị (loài vật) ăn, đã thực hành pháp dâm trên tử thi ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sivathikaṁ gantvā yebhuyyena akkhāyitaṁ sarīraṁ passitvā tasmiṁ methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk went to a charnel ground where he saw a mostly undecomposed corpse. He had sexual intercourse with it. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đi đến nghĩa địa, sau khi nhìn thấy một tử thi phần lớn chưa bị (loài vật) ăn, đã thực hành pháp dâm trên tử thi ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sivathikaṁ gantvā yebhuyyena khāyitaṁ sarīraṁ passitvā tasmiṁ methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti thullaccayassā”ti.
At one time a monk went to a charnel ground where he saw a mostly decomposed corpse. He had sexual intercourse with it. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đi đến nghĩa địa, sau khi nhìn thấy một tử thi phần lớn đã bị (loài vật) ăn, đã thực hành pháp dâm trên tử thi ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có phạm tội thullaccaya.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sivathikaṁ gantvā chinnasīsaṁ passitvā vaṭṭakate mukhe chupantaṁ aṅgajātaṁ pavesesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk went to a charnel ground where he saw a decapitated head. He inserted his penis into the open mouth, making contact as he entered. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đi đến nghĩa địa, sau khi nhìn thấy một cái đầu bị cắt lìa, đã đưa bộ phận sinh dục của mình vào trong miệng đang mở của cái đầu ấy. Vị ấy sanh lòng hối hận ... (đức Thế Tôn phán:) “Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sivathikaṁ gantvā chinnasīsaṁ passitvā vaṭṭakate mukhe acchupantaṁ aṅgajātaṁ pavesesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk went to a charnel ground where he saw a decapitated head. He inserted his penis into the open mouth, without making contact as he entered. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đi đến nghĩa địa, thấy một cái đầu bị chặt đứt, đã đưa bộ phận sinh dục vào trong miệng đang há mà không cho chạm vào. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Phạm tội dukkaṭa.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu aññatarissā itthiyā paṭibaddhacitto hoti. Sā kālaṅkatā susāne chaḍḍitā. Aṭṭhikāni vippakiṇṇāni honti. Atha kho so bhikkhu sivathikaṁ gantvā aṭṭhikāni saṅkaḍḍhitvā nimitte aṅgajātaṁ paṭipādesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a monk was in love with a certain woman. When she died, the body was dumped on a charnel ground. After some time only scattered bones remained. The monk went to the charnel ground, collected the bones, and brought his penis into the genital area. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu có tâm quyến luyến một người phụ nữ. Người ấy đã chết, bị vứt bỏ ở nghĩa địa. Các khúc xương bị vương vãi. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đi đến nghĩa địa, gom các khúc xương lại, đã đặt bộ phận sinh dục vào trong bộ phận sinh dục (của bộ xương). Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Phạm tội dukkaṭa.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu nāgiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … yakkhiniyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … petiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevi … paṇḍakassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu upahatindriyo hoti. So—“nāhaṁ vediyāmi sukhaṁ vā dukkhaṁ vā, anāpatti me bhavissatī”ti—
At one time a monk had sexual intercourse with a female dragon … had sexual intercourse with a female spirit … had sexual intercourse with a female ghost … had sexual intercourse with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
At one time there was a monk with impaired faculties. Thinking he would avoid an offense because he felt neither pleasure nor pain,
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã thực hành pháp dâm với một nữ rồng ... đã thực hành pháp dâm với một nữ dạ-xoa ... đã thực hành pháp dâm với một nữ ngạ quỷ ... đã thực hành pháp dâm với một người bán nam bán nữ. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu—
At one time a monk who intended to have sexual intercourse with a woman
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu có các giác quan bị tổn thương. Vị ấy đã thực hành pháp dâm (với ý nghĩ rằng): 'Ta không cảm nhận được lạc hay khổ, ta sẽ không phạm tội.' (Các tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) 'Này các tỳ khưu, người ngu si ấy dù có cảm nhận hay không có cảm nhận, vẫn phạm tội pārājika.'
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu (nghĩ rằng): 'Ta sẽ thực hành pháp dâm với một người phụ nữ,' vừa mới chạm vào đã có sự hối hận. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Phạm tội saṅghādisesa.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bhaddiye jātiyāvane divāvihāragato nipanno hoti. Tassa aṅgamaṅgāni vātūpatthaddhāni honti. Aññatarā itthī passitvā aṅgajāte abhinisīditvā yāvadatthaṁ katvā pakkāmi. Bhikkhū kilinnaṁ passitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Pañcahi, bhikkhave, ākārehi aṅgajātaṁ kammaniyaṁ hoti—rāgena, vaccena, passāvena, vātena, uccāliṅgapāṇakadaṭṭhena. Imehi kho, bhikkhave, pañcahākārehi aṅgajātaṁ kammaniyaṁ hoti. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ tassa bhikkhuno rāgena aṅgajātaṁ kammaniyaṁ assa. Arahaṁ so, bhikkhave, bhikkhu. Anāpatti, bhikkhave, tassa bhikkhuno”ti.
At one time a monk was lying down in the Jātiyā Grove at Bhaddiya, having gone there for the day’s meditation. He had an erection because of wind. A certain woman saw him and sat down on his penis. Having taken her pleasure, she left. Seeing the moisture, the monks told the Buddha. “Monks, an erection occurs for five reasons: because of sensual desire, feces, urine, or wind, or because of being stung by caterpillars. It’s impossible that that monk had an erection because of sensual desire. That monk is a perfected one. There’s no offense for that monk.”
74. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày tại khu rừng Jātiyā ở Bhaddiya. Các chi phần của vị ấy bị co cứng do gió. Một người phụ nữ thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục, làm theo ý muốn rồi bỏ đi. Các tỳ khưu thấy (vị ấy) bị dính bẩn (bởi tinh dịch) đã trình báo sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) 'Này các tỳ khưu, bộ phận sinh dục trở nên cương cứng do năm trường hợp: do tham dục, do đại tiện, do tiểu tiện, do gió, do bị sâu uccāliṅga cắn. Này các tỳ khưu, chính do năm trường hợp này mà bộ phận sinh dục trở nên cương cứng. Này các tỳ khưu, không có lý do, không có trường hợp nào mà bộ phận sinh dục của vị tỳ khưu ấy lại cương cứng do tham dục. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không phạm tội.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāvatthiyā andhavane divāvihāragato nipanno hoti. Aññatarā gopālikā passitvā aṅgajāte abhinisīdi. So bhikkhu pavesanaṁ sādiyi, paviṭṭhaṁ sādiyi, ṭhitaṁ sādiyi, uddharaṇaṁ sādiyi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk was lying down in the Dark Wood at Sāvatthī, having gone there for the day’s meditation. A woman cowherd saw him and sat down on his penis. The monk consented to the entry, to having entered, to the remaining, and to the taking out. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày tại khu rừng Andhavana ở Sāvatthī. Một người phụ nữ chăn bò thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục. Vị tỳ khưu ấy đã chấp nhận lúc đưa vào, đã chấp nhận lúc đã vào trong, đã chấp nhận lúc đang ở yên, đã chấp nhận lúc rút ra. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāvatthiyā andhavane divāvihāragato nipanno hoti. Aññatarā ajapālikā passitvā … aññatarā kaṭṭhahārikā passitvā … aññatarā gomayahārikā passitvā aṅgajāte abhinisīdi. So bhikkhu pavesanaṁ sādiyi, paviṭṭhaṁ sādiyi, ṭhitaṁ sādiyi, uddharaṇaṁ sādiyi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a monk was lying down in the Dark Wood at Sāvatthī, having gone there for the day’s meditation. A woman goatherd saw him … A woman gathering firewood saw him … A woman gathering cow-dung saw him and sat down on his penis. The monk consented to the entry, to having entered, to the remaining, and to the taking out. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày tại khu rừng Andhavana ở Sāvatthī. Một người phụ nữ chăn dê thấy vậy ... một người phụ nữ lượm củi thấy vậy ... một người phụ nữ lượm phân bò thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục. Vị tỳ khưu ấy đã chấp nhận lúc đưa vào, đã chấp nhận lúc đã vào trong, đã chấp nhận lúc đang ở yên, đã chấp nhận lúc rút ra. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vesāliyaṁ mahāvane divāvihāragato nipanno hoti. Aññatarā itthī passitvā aṅgajāte abhinisīditvā yāvadatthaṁ katvā sāmantā hasamānā ṭhitā hoti. So bhikkhu paṭibujjhitvā taṁ itthiṁ etadavoca—“tuyhidaṁ kamman”ti?
“Āma, mayhaṁ kamman”ti.
Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe…
“sādiyi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, jānāmī”ti.
“ Anāpatti, bhikkhu, ajānantassā”ti.
At one time a monk was lying down in the Great Wood at Vesālī, having gone there for the day’s meditation. A woman saw him and sat down on his penis. Having taken her pleasure, she stood laughing nearby. The monk woke up and said, “Did you do this?”
“Yes.”
He became anxious …
“Did you consent?”
“I didn’t even know, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t know.”
75. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày tại khu Đại Lâm ở Vesālī. Một người phụ nữ thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục, làm theo ý muốn rồi đứng cười ở gần đó. Vị tỳ khưu ấy thức dậy, nói với người phụ nữ ấy điều này: 'Đây là việc làm của cô phải không?' (Người ấy đáp:) 'Vâng, là việc làm của tôi.' Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn hỏi:) 'Này tỳ khưu, ngươi có chấp nhận không?' (Vị ấy thưa:) 'Bạch Đức Thế Tôn, con không biết.' (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, người không biết thì không phạm tội.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vesāliyaṁ mahāvane divāvihāragato rukkhaṁ apassāya nipanno hoti. Aññatarā itthī passitvā aṅgajāte abhinisīdi. So bhikkhu sahasā vuṭṭhāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “sādiyi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, sādiyin”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, asādiyantassā”ti.
At one time a monk went to the Great Wood at Vesālī for the day’s meditation. He lay down, resting his head against a tree. A woman saw him and sat down on his penis. The monk got up quickly. He became anxious … “Did you consent?”
“I didn’t consent, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t consent.”
76. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày, tựa vào một gốc cây tại khu Đại Lâm ở Vesālī. Một người phụ nữ thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục. Vị tỳ khưu ấy vội vàng đứng dậy. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn hỏi:) 'Này tỳ khưu, ngươi có chấp nhận không?' (Vị ấy thưa:) 'Bạch Đức Thế Tôn, con không chấp nhận.' (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, người không chấp nhận thì không phạm tội.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vesāliyaṁ mahāvane divāvihāragato rukkhaṁ apassāya nipanno hoti. Aññatarā itthī passitvā aṅgajāte abhinisīdi. So bhikkhu akkamitvā pavattesi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “sādiyi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, sādiyin”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, asādiyantassā”ti.
At one time a monk went to the Great Wood at Vesālī for the day’s meditation. He lay down, resting his head against a tree. A woman saw him and sat down on his penis. The monk kicked her off. He became anxious … “Did you consent?”
“I didn’t consent, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t consent.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày, tựa vào một gốc cây tại khu Đại Lâm ở Vesālī. Một người phụ nữ thấy vậy, đã ngồi lên bộ phận sinh dục. Vị tỳ khưu ấy đã đá và làm cho (người ấy) ngã xuống. Vị ấy có sự hối hận ... cho đến ... (Đức Thế Tôn hỏi:) 'Này tỳ khưu, ngươi có chấp nhận không?' (Vị ấy thưa:) 'Bạch Đức Thế Tôn, con không chấp nhận.' (Đức Thế Tôn phán:) 'Này tỳ khưu, người không chấp nhận thì không phạm tội.'
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vesāliyaṁ mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ divāvihāragato dvāraṁ vivaritvā nipanno hoti. Tassa aṅgamaṅgāni vātūpatthaddhāni honti. Tena kho pana samayena sambahulā itthiyo gandhañca mālañca ādāya ārāmaṁ āgamaṁsu vihārapekkhikāyo. Atha kho tā itthiyo taṁ bhikkhuṁ passitvā aṅgajāte abhinisīditvā yāvadatthaṁ katvā, purisūsabho vatāyanti vatvā gandhañca mālañca āropetvā pakkamiṁsu. Bhikkhū kilinnaṁ passitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Pañcahi, bhikkhave, ākārehi aṅgajātaṁ kammaniyaṁ hoti—rāgena, vaccena, passāvena, vātena, uccāliṅgapāṇakadaṭṭhena. Imehi kho, bhikkhave, pañcahākārehi aṅgajātaṁ kammaniyaṁ hoti. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso, yaṁ tassa bhikkhuno rāgena aṅgajātaṁ kammaniyaṁ assa. Arahaṁ so, bhikkhave, bhikkhu. Anāpatti, bhikkhave, tassa bhikkhuno.
Anujānāmi, bhikkhave, divā paṭisallīyantena dvāraṁ saṁvaritvā paṭisallīyitun”ti.
At one time a monk went to the house with the peaked roof in the Great Wood near Vesālī for the day’s meditation. He opened the door, lay down, and had an erection because of wind. Just then a number of women came to the monastery to look at the dwellings, bringing scents and garlands. They saw that monk and sat down on his penis. Having taken their pleasure, they said, “What a bull of a man.” They then put up their scents and garlands and left. The monks saw the moisture and told the Buddha.
“Monks, an erection occurs for five reasons: because of sensual desire, feces, urine, or wind, or because of being stung by caterpillars. It’s impossible that that monk had an erection because of sensual desire. That monk is a perfected one. There’s no offense for that monk.
But, monks, you should close the door when you are in seclusion during the day.”
77. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang nằm nghỉ ban ngày tại một ngôi tịnh xá có mái nhọn ở khu Đại Lâm (Mahāvana) tại Vesālī, sau khi đã mở cửa ra. Các bộ phận lớn nhỏ trên thân thể của vị ấy bị co cứng do bị trúng gió. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người phụ nữ mang theo hương và hoa đi đến ngôi tự viện với ý muốn tham quan tịnh xá. Khi ấy, những người phụ nữ ấy sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu, đã ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục, đã làm theo ý muốn, rồi nói rằng: ‘Vị này quả là một đấng nam nhi thượng hạng,’ sau đó đã đặt hương và hoa lên rồi bỏ đi. Các vị tỳ khưu sau khi nhìn thấy (vị ấy) bị dính bẩn đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật dạy:) ‘Này các tỳ khưu, bộ phận sinh dục trở nên cương cứng do năm nguyên nhân: do tham dục, do phân, do nước tiểu, do gió, do bị loài côn trùng uccāliṅga cắn. Này các tỳ khưu, bộ phận sinh dục trở nên cương cứng do năm nguyên nhân này. Này các tỳ khưu, điều này không thể xảy ra, không có cơ hội, việc bộ phận sinh dục của vị tỳ khưu ấy trở nên cương cứng là do tham dục. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không có phạm tội. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đang nghỉ ngơi vào ban ngày nên đóng cửa lại rồi hãy nghỉ ngơi.’
Tena kho pana samayena aññataro bhārukacchako bhikkhu supinante purāṇadutiyikāya methunaṁ dhammaṁ paṭisevitvā—“assamaṇo ahaṁ, vibbhamissāmī”ti, bhārukacchaṁ gacchanto antarāmagge āyasmantaṁ upāliṁ passitvā etamatthaṁ ārocesi. Āyasmā upāli evamāha—“anāpatti, āvuso, supinantenā”ti.
Tena kho pana samayena rājagahe supabbā nāma upāsikā mudhappasannā hoti. Sā evaṁdiṭṭhikā hoti—“yā methunaṁ dhammaṁ deti sā aggadānaṁ detī”ti. Sā bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Ehi, bhante, ūruntarikāya ghaṭṭehi,
At one time a monk from Bhārukaccha dreamed that he had sexual intercourse with his ex-wife. He thought he was no longer a monastic and that he would have to disrobe. While on his way to Bhārukaccha, he saw Venerable Upāli and told him what had happened. Venerable Upāli said, “There’s no offense when it occurs while dreaming.”
At one time in Rājagaha there was a female lay follower called Supabbā who had misplaced faith. She had the view that a woman who gives sexual intercourse gives the highest gift. She saw a monk and said, “Sir, come and have sexual intercourse.”
“It’s not allowable.”
“Then rub between the thighs.
78. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu ở xứ Bhārukaccha, trong giấc mộng đã hành dâm với người vợ cũ, rồi suy nghĩ rằng: ‘Ta không còn là sa-môn nữa, ta sẽ hoàn tục,’ và trong khi đang đi đến xứ Bhārukaccha, vị ấy đã gặp trưởng lão Upāli ở giữa đường và đã trình bày sự việc ấy. Trưởng lão Upāli đã nói như vầy: ‘Này hiền hữu, không phạm tội do giấc mộng.’
Vào lúc bấy giờ, tại thành Rājagaha (Vương Xá), có một nữ cận sự tên là Supabbā có đức tin đặt sai chỗ. Bà có tà kiến như vầy: ‘Người phụ nữ nào cho sự hành dâm thì người ấy cho vật thí cao thượng nhất.’ Bà ấy sau khi nhìn thấy một vị tỳ khưu đã nói điều này: ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy hành dâm.’ (Vị tỳ khưu đáp:) ‘Thôi đi, này người chị em, điều này không được phép.’ (Bà ta nói:) ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào khoảng giữa hai đùi, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.’ ... (vân vân) ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào rốn.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào ngấn bụng.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào nách.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào cổ.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào lỗ tai.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào búi tóc.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào kẽ ngón tay.’ ... ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, tôi sẽ cố gắng dùng tay để làm cho xuất tinh, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.’ Vị tỳ khưu ấy đã làm như vậy. Vị ấy đã có sự hối hận. ... (vân vân) ... (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có sự phạm tội saṅghādisesa.’
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ saddhā nāma upāsikā mudhappasannā hoti. Sā evaṁdiṭṭhikā hoti—“yā methunaṁ dhammaṁ deti sā aggadānaṁ detī”ti. Sā bhikkhuṁ passitvā etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Ehi, bhante, ūruntarikāya ghaṭṭehi …pe… ehi, bhante, hatthena upakkamitvā mocessāmi, evaṁ te anāpatti bhavissatī”ti. So bhikkhu tathā akāsi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “anāpatti, bhikkhu, pārājikassa. Āpatti saṅghādisesassā”ti.
At one time in Sāvatthī there was a female lay follower called Saddhā who had misplaced faith. She had the view that a woman who gives sexual intercourse gives the highest gift. She saw a monk and said, “Sir, come and have sexual intercourse.”
“It’s not allowable.”
“Then rub between the thighs. … Then I’ll make you discharge with my hand. In this way there won’t be any offense for you.” The monk acted accordingly. He became anxious … “There’s no offense entailing expulsion, but there’s an offense entailing suspension.”
79. Vào lúc bấy giờ, tại thành Sāvatthī (Xá-vệ), có một nữ cận sự tên là Saddhā có đức tin đặt sai chỗ. Bà có tà kiến như vầy: ‘Người phụ nữ nào cho sự hành dâm thì người ấy cho vật thí cao thượng nhất.’ Bà ấy sau khi nhìn thấy một vị tỳ khưu đã nói điều này: ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy hành dâm.’ (Vị tỳ khưu đáp:) ‘Thôi đi, này người chị em, điều này không được phép.’ (Bà ta nói:) ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy cọ xát vào khoảng giữa hai đùi... (vân vân) ... Bạch ngài, xin hãy đến đây, tôi sẽ cố gắng dùng tay để làm cho xuất tinh, làm như vậy ngài sẽ không phạm tội.’ Vị tỳ khưu ấy đã làm như vậy. Vị ấy đã có sự hối hận. ... (vân vân) ... (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội pārājika. Có sự phạm tội saṅghādisesa.’
Tena kho pana samayena vesāliyaṁ licchavikumārakā bhikkhuṁ gahetvā bhikkhuniyā vippaṭipādesuṁ … sikkhamānāya vippaṭipādesuṁ … sāmaṇeriyā vippaṭipādesuṁ. Ubho sādiyiṁsu. Ubho nāsetabbā. Ubho na sādiyiṁsu. Ubhinnaṁ anāpatti.
At one time in Vesālī some Licchavī youths grabbed a monk and made him commit misconduct with a nun. … made him commit misconduct with a trainee nun. … made him commit misconduct with a novice nun. Both consented: both should be expelled. Neither consented: there is no offense for either.
80. Vào lúc bấy giờ, tại Vesālī, các vương tử Licchavi sau khi bắt giữ một vị tỳ khưu đã xui khiến thực hành tà hạnh với một vị tỳ khưu ni... đã xui khiến thực hành tà hạnh với một vị học nữ... đã xui khiến thực hành tà hạnh với một vị sa-di-ni. Cả hai đều đồng thuận. Cả hai đều phải bị trục xuất. Cả hai đều không đồng thuận. Cả hai đều không phạm tội.
Tena kho pana samayena vesāliyaṁ licchavikumārakā bhikkhuṁ gahetvā vesiyā vippaṭipādesuṁ … paṇḍake vippaṭipādesuṁ … gihiniyā vippaṭipādesuṁ. Bhikkhu sādiyi. Bhikkhu nāsetabbo. Bhikkhu na sādiyi. Bhikkhussa anāpatti.
At one time in Vesālī some Licchavī youths grabbed a monk and made him commit misconduct with a sex worker. … made him commit misconduct with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>. … made him commit misconduct with a female householder. The monk consented: he should be expelled. The monk did not consent: there is no offense.
81. Vào lúc bấy giờ, tại Vesālī, các vương tử Licchavi sau khi bắt giữ một vị tỳ khưu đã xui khiến thực hành tà hạnh với một kỹ nữ... đã xui khiến thực hành tà hạnh với một người ái nam ái nữ (paṇḍaka)... đã xui khiến thực hành tà hạnh với một người nữ tại gia. Vị tỳ khưu đồng thuận. Vị tỳ khưu phải bị trục xuất. Vị tỳ khưu không đồng thuận. Vị tỳ khưu không phạm tội.
Tena kho pana samayena vesāliyaṁ licchavikumārakā bhikkhū gahetvā aññamaññaṁ vippaṭipādesuṁ. Ubho sādiyiṁsu. Ubho nāsetabbā. Ubho na sādiyiṁsu. Ubhinnaṁ anāpatti.
At one time in Vesālī some Licchavī youths grabbed two monks and made them commit misconduct with each other. Both consented: both should be expelled. Neither consented: there is no offense for either.
Vào lúc bấy giờ, tại Vesālī, các vương tử Licchavi sau khi bắt giữ các vị tỳ khưu đã xui khiến họ thực hành tà hạnh với nhau. Cả hai đều đồng thuận. Cả hai đều phải bị trục xuất. Cả hai đều không đồng thuận. Cả hai đều không phạm tội.
Tena kho pana samayena aññataro vuḍḍhapabbajito bhikkhu purāṇadutiyikāya dassanaṁ agamāsi. Sā—“ehi, bhante, vibbhamā”ti aggahesi. So bhikkhu paṭikkamanto uttāno paripati. Sā ubbhajitvā aṅgajāte abhinisīdi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “sādiyi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, sādiyin”ti.
“Anāpatti, bhikkhu, asādiyantassā”ti.
At one time a monk who had gone forth in old age went to see his ex-wife. Saying, “Come and disrobe,” she grabbed him. Stepping backward, the monk fell on his back. She pulled up his robe and sat down on his penis. He became anxious … “Did you consent, monk?”
“I didn’t consent, sir.”
“There’s no offense for one who doesn’t consent.”
82. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu xuất gia lúc lớn tuổi đã đi đến để thăm người vợ cũ. Bà ta đã níu giữ vị ấy và nói: ‘Bạch ngài, xin hãy đến đây, hãy hoàn tục.’ Vị tỳ khưu ấy trong khi lùi lại đã bị ngã ngửa ra. Bà ta, sau khi vén y phục lên, đã ngồi đè lên trên bộ phận sinh dục. Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Phật hỏi:) ‘Này tỳ khưu, ngươi có đồng thuận không?’ (Vị ấy thưa:) ‘Bạch đức Thế Tôn, con không đồng thuận.’ (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, không phạm tội đối với người không đồng thuận.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu araññe viharati. Migapotako tassa passāvaṭṭhānaṁ āgantvā passāvaṁ pivanto mukhena aṅgajātaṁ aggahesi. So bhikkhu sādiyi. Tassa kukkuccaṁ ahosi …pe… “āpattiṁ tvaṁ, bhikkhu, āpanno pārājikan”ti.
At one time a certain monk was staying in the wilderness. A young deer came to his place of urination, drank the urine, and took hold of his penis with its mouth. The monk consented. He became anxious … “You’ve committed an offense entailing expulsion.”
83. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đang trú ở trong rừng. Một con nai con, sau khi đi đến chỗ tiểu tiện của vị ấy, trong khi đang uống nước tiểu đã ngậm lấy bộ phận sinh dục bằng miệng. Vị tỳ khưu ấy đã đồng thuận. Vị ấy đã có sự hối hận ... (vân vân) ... (Đức Phật phán:) ‘Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.’
Paṭhamapārājikaṁ samattaṁ.
The first offense entailing expulsion is finished.
Phần Pārājika Thứ Nhất đã chấm dứt.