- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Pācittiyakaṇḍa
- Bhūtagāmavagga
Bản dịch
Bu Vb Pc 13 — Ba-dật-đề 13
13. Ujjhāpanakasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ và sắp xếp các bữa ăn của hội chúng. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka chỉ là các vị mới tu có phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường nhận được những chỗ trú ngụ kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi. Các vị ấy phàn nàn về đại đức Dabba Mallaputta với các tỳ khưu rằng:—“Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ theo sự ưa thích và sắp xếp các bữa ăn theo sự ưa thích.”
Các tỳ khưu ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại phàn nàn về đại đức Dabba Mallaputta với các tỳ khưu?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi phàn nàn về Dabba Mallaputta với các tỳ khưu, có đúng không vậy?—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại phàn nàn về Dabba Mallaputta với các tỳ khưu vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Khi phàn nàn thì phạm tội pācittiya.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (nghĩ rằng): “Việc phê phán đã bị đức Thế Tôn cấm đoán, đã thế thì các tỳ khưu chỉ sẽ được nghe thôi” rồi phê phán đại đức Dabba Mallaputta ở xung quanh các vị tỳ khưu rằng:—“Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ theo sự ưa thích và sắp xếp các bữa ăn theo sự ưa thích.” Các tỳ khưu ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại phê phán đại đức Dabba Mallaputta?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi phê phán Dabba Mallaputta, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại phê phán Dabba Mallaputta vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Khi phàn nàn, phê phán thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Phê phán nghĩa là vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị đã tu lên bậc trên được hội chúng chỉ định làm vị phân bố chỗ trú ngụ, hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc là vị phân chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị phân chia vật linh tinh rồi phàn nàn hoặc phê phán vị đã tu lên bậc trên thì phạm tội pācittiya.
Hành sự đúng pháp, nhận biết là hành sự đúng pháp, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội pācittiya. Hành sự đúng pháp, có sự hoài nghi, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội pācittiya. Hành sự đúng pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai pháp, khi phàn nàn phê phán thì phạm tội pācittiya.
Vị phàn nàn hoặc phê phán người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ vị đã tu lên bậc trên không được hội chúng chỉ định làm vị phân bố chỗ trú ngụ hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc là vị phân chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị phân chia vật linh tinh rồi phàn nàn hoặc phê phán với vị đã tu lên bậc trên hoặc với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.
Vị có ý định làm mất thể diện, có ý định làm mất danh dự, có ý định làm xấu hổ người chưa tu lên bậc trên được hội chúng chỉ định hoặc không được chỉ định làm vị phân bố chỗ trú ngụ, hoặc là vị sắp xếp bữa ăn, hoặc là vị phân chia cháo, hoặc là vị phân chia trái cây, hoặc là vị phân chia thức ăn khô, hoặc là vị phân chia vật linh tinh, rồi phê phán hoặc phàn nàn với vị đã tu lên bậc trên hoặc với người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.
Hành sự sai pháp, (lầm tưởng) là hành sự đúng pháp, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai pháp, nhận biết là hành sự sai pháp, phạm tội dukkaṭa.
Vị phàn nàn hoặc phê phán vị (khác) đang hành động theo thói thường vì ưa thích, vì sân hận, vì si mê, vì sợ hãi; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học về việc phàn nàn là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing confession
- The subchapter on plants
Phần Pācittiya (Ưng đối trị) đã kết thúc.
13. Ujjhāpanakasikkhāpada
13. Complaining
Origin story
First sub-story
1. Học giới Pāṭidesanīya thứ nhất
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā dabbo mallaputto saṅghassa senāsanañca paññapeti bhattāni ca uddisati. Tena kho pana samayena mettiyabhūmajakā bhikkhū navakā ceva honti appapuññā ca. Yāni saṅghassa lāmakāni senāsanāni tāni tesaṁ pāpuṇanti lāmakāni ca bhattāni. Te āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ bhikkhū ujjhāpenti—“chandāya dabbo mallaputto senāsanaṁ paññapeti, chandāya ca bhattāni uddisatī”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ bhikkhū ujjhāpessantī”ti …pe… “saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, dabbaṁ mallaputtaṁ bhikkhū ujjhāpethā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tumhe, moghapurisā, dabbaṁ mallaputtaṁ bhikkhū ujjhāpessatha. Netaṁ, moghapurisā, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
“Ujjhāpanake pācittiyan”ti.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time Venerable Dabba the Mallian was assigning the dwellings and designating the meals, and the monks Mettiya and Bhūmajaka were newly ordained. They had little merit, getting inferior dwellings and meals. They then complained about Dabba to other monks, “Dabba the Mallian assigns dwellings and designates meals based on favoritism.”
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks Mettiya and Bhūmajaka complain about Venerable Dabba to other monks?”… “Is it true, monks, that you do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “Foolish men, how can you do this? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Preliminary ruling
‘If a monk complains, he commits an offense entailing confession.’”
557. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Cũng vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu được mời đến các gia đình và đang dùng bữa. Các vị tỳ khưu ni nhóm Lục Sư đứng sắp đặt cho các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư rằng: ‘Hãy dâng món canh vào đây, hãy dâng cơm vào đây.’ Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư được dùng thỏa thích. Các vị tỳ khưu khác không được dùng theo ý muốn. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... (v.v.) ... đã phàn nàn, chê bai, khiển trách rằng: ‘Tại sao các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư lại không ngăn cản các vị tỳ khưu ni đang sắp đặt chứ?’ ... (v.v.) ... – Này các tỳ khưu, có thật là các ngươi đã không ngăn cản các vị tỳ khưu ni đang sắp đặt không? – Bạch Thế Tôn, việc ấy là thật. Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (v.v.) ... – Này các kẻ rỗng tuếch kia, tại sao các ngươi lại không ngăn cản các vị tỳ khưu ni đang sắp đặt chứ? Này các kẻ rỗng tuếch, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... (v.v.) ... Này các tỳ khưu, các ngươi nên tuyên đọc điều học này như sau:
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
Second sub-story
Như vậy, điều học này đã được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu.
Tena kho pana samayena mettiyabhūmajakā bhikkhū—“‘bhagavatā ujjhāpanakaṁ paṭikkhittan’ti ‘ettāvatā bhikkhū sossantī’”ti bhikkhūnaṁ sāmantā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ khiyyanti—“chandāya dabbo mallaputto senāsanaṁ paññapeti, chandāya ca bhattāni uddisatī”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ khiyyissantī”ti …pe… “saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, dabbaṁ mallaputtaṁ khiyyathā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tumhe, moghapurisā, dabbaṁ mallaputtaṁ khiyyissatha. Netaṁ, moghapurisā, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
“Ujjhāpanake khiyyanake pācittiyan”ti.
- Ujjhāpanakaṁ nāma
- upasampannaṁ saṅghena sammataṁ senāsanapaññāpakaṁ vā bhattuddesakaṁ vā yāgubhājakaṁ vā phalabhājakaṁ vā khajjabhājakaṁ vā appamattakavissajjakaṁ vā avaṇṇaṁ kattukāmo, ayasaṁ kattukāmo, maṅkukattukāmo, upasampannaṁ ujjhāpeti vā khiyyati vā, āpatti pācittiyassa.
Dhammakamme dhammakammasaññī ujjhāpanake khiyyanake āpatti pācittiyassa. Dhammakamme vematiko ujjhāpanake khiyyanake āpatti pācittiyassa. Dhammakamme adhammakammasaññī ujjhāpanake khiyyanake āpatti pācittiyassa.
Anupasampannaṁ ujjhāpeti vā khiyyati vā, āpatti dukkaṭassa.
Upasampannaṁ saṅghena asammataṁ senāsanapaññāpakaṁ vā bhattuddesakaṁ vā yāgubhājakaṁ vā phalabhājakaṁ vā khajjabhājakaṁ vā appamattakavissajjakaṁ vā avaṇṇaṁ kattukāmo, ayasaṁ kattukāmo, maṅkukattukāmo, upasampannaṁ vā anupasampannaṁ vā ujjhāpeti vā khiyyati vā, āpatti dukkaṭassa.
Anupasampannaṁ saṅghena sammataṁ vā asammataṁ vā senāsanapaññāpakaṁ vā bhattuddesakaṁ vā yāgubhājakaṁ vā phalabhājakaṁ vā khajjabhājakaṁ vā appamattakavissajjakaṁ vā avaṇṇaṁ kattukāmo, ayasaṁ kattukāmo, maṅkukattukāmo, upasampannaṁ vā anupasampannaṁ vā ujjhāpeti vā khiyyati vā, āpatti dukkaṭassa.
Adhammakamme dhammakammasaññī, āpatti dukkaṭassa. Adhammakamme vematiko, āpatti dukkaṭassa. Adhammakamme adhammakammasaññī āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—pakatiyā chandā dosā mohā bhayā karontaṁ ujjhāpeti vā khiyyati vā, ummattakassa, ādikammikassāti.
Ujjhāpanakasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Knowing that the Buddha had prohibited complaining, the monks Mettiya and Bhūmajaka thought of other ways of getting the monks to hear about their grievances. They then criticized Dabba the Mallian in the vicinity of other monks, “Dabba assigns dwellings and designates meals based on favoritism.”
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks Mettiya and Bhūmajaka criticize Venerable Dabba?”… “Is it true, monks, that you do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “Foolish men, how can you do this? This will affect people’s confidence …” … “And so, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
‘If a monk complains or criticizes, he commits an offense entailing confession.’”
Definitions
- Complaining:
- when someone who is fully ordained is the assigner of dwellings or the designator of meals or the distributor of congee or the distributor of fruit or the distributor of fresh foods or the distributor of minor requisites, and he has been appointed by the Sangha as such, then if a monk complains about him or criticizes him to one who is fully ordained—desiring to disparage him, desiring to give him a bad reputation, desiring to humiliate him—he commits an offense entailing confession.
Permutations
If it is a legitimate legal procedure, and he perceives it as such, and he complains or criticizes, he commits an offense entailing confession. If it is a legitimate legal procedure, but he is unsure of it, and he complains or criticizes, he commits an offense entailing confession. If it is a legitimate legal procedure, but he perceives it as illegitimate, and he complains or criticizes, he commits an offense entailing confession.
If he complains or criticizes him to one who is not fully ordained, he commits an offense of wrong conduct.
When someone who is fully ordained is the assigner of dwellings or the designator of meals or the distributor of congee or the distributor of fruit or the distributor of fresh foods or the distributor of minor requisites, but he has not been appointed by the Sangha as such, then if a monk complains about him or criticizes him to one who is fully ordained or to one who is not fully ordained—desiring to disparage him, desiring to give him a bad reputation, desiring to humiliate him—he commits an offense of wrong conduct.
When someone who is not fully ordained is the assigner of dwellings or the designator of meals or the distributor of congee or the distributor of fruit or the distributor of fresh foods or the distributor of minor requisites, whether he has been appointed by the Sangha as such or not, then if a monk complains about him or criticizes him to one who is fully ordained or to one who is not fully ordained—desiring to disparage him, desiring to give him a bad reputation, desiring to humiliate him—he commits an offense of wrong conduct.
If it is an illegitimate legal procedure, but he perceives it as legitimate, he commits an offense of wrong conduct. If it is an illegitimate legal procedure, but he is unsure of it, he commits an offense of wrong conduct. If it is an illegitimate legal procedure, and he perceives it as such, he commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense: if he complains about or criticizes one who regularly acts out of favoritism, ill will, confusion, or fear; if he is insane; if he is the first offender.
The training rule on complaining, the third, is finished.
564. Cũng vào lúc ấy, tại Sāvatthī có một lễ hội. Dân chúng thỉnh mời các tỳ khưu và dâng cúng vật thực. Gia tộc ấy cũng đã thỉnh mời các tỳ khưu. Các tỳ khưu do dự, không chấp nhận, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã ngăn cấm việc tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng tại các gia tộc đã được công nhận là hữu học.” Họ (dân chúng trong gia tộc ấy) phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Chúng tôi sống còn có ích gì khi mà các ngài không nhận (vật cúng dường) của chúng tôi!” Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Rồi các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, nhân duyên sự này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị (tỳ khưu) đã được thỉnh mời được tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm rồi ăn hoặc dùng tại các gia tộc đã được công nhận là hữu học. Và này các tỳ khưu, các thầy nên đọc lên điều học này như sau –”